NGHIÊN CỨU "ĐỒ CỔ" CHO VUI.

Thảo luận trong 'Phong Thủy - Dịch Lý' bắt đầu bởi Baphải, Thg 3 19, 2016.

  1. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Tôi coppy lại một số bài viết của tôi đã đăng rãi rác ở các diễn đàn, tập trung về một chỗ. Mời các bạn đọc, nghiên cứu và cho lời góp ý bổ sung.

    Bài 1: Bài Cửu Tinh Chế Phục có gì sai sót ?

    Sách Kim Oanh Ký 2 của Cụ Thái Kim Oanh – trang 22 – viết rằng: Nguyên văn:
    “Sanh Khí giáng Ngũ Quỷ
    Thiên Y chế Tuyệt Mạng
    Diên Niên yểm Lục Sát
    Chế phục an bài định”
    Ta thấy có ba sao tốt lá Sanh Khí, Thiên Y, Diên Niên chế ba sao xấu là Ngũ Quỷ, Tuyệt Mạng, Lục Sát; còn sao Phuc Vị có trừ được Họa Hại không? Tại sao không thấy Cụ nói năng gì? Có thể là sách in sót? Tôi khẳng định rằng không! Thế nhưng điều này được Tống Thiều Quang – tác giả cuốn sách: “Phong thủy đia lý toàn thư ” – trang 181 – cho rằng Phục Vị trừ được Họa Hại nhưng không có lời giải thích nào.Có thể ông ta cho rằng phái Bát Trạch có 4 sao tốt và 4 sao xấu,như trên đã nêu 3 sao tốt chế phục 3 sao xấu rồi thì còn lại sao Phục Vị hiển nhiên sẽ chế phục được sao Lộc Tồn. Tôi nghĩ rằng đây là lối võ đoán, không đúng! Tôi xin lý giải như sau:
    Về Cửu tinh (9 sao) thì phái Bát trạch và phái Huyền Không đều có. Cụ thể:
    - Phái Bát Trạch:
    + Sanh Khí thuộc sao Tham lang, dương Mộc
    + Thiên Y thuộc sao Cự Môn, dương Thổ
    + Diên Niên thuộc sao Vũ Khúc, dương Kim
    + Phục Vị thuộc Tả phụ+ Bồ Chúc, âm Thủy
    + Ngũ Quỷ thuộc sao Liêm Trinh, âm Hỏa
    + Tuyệt Mạng thuộc sao Phá Quân, âm Kim
    + Lục Sát thuộc sao Văn Khúc, dương Thủy
    + Họa Hại thuộc sao Lộc Tồn, âm Thổ

    - Phái Huyền Không phi tinh:
    + Nhất Bạch thuộc sao Tham Lang, hành Thủy
    + Nhị Hắc thuộc sao Cự Môn, hành Thổ
    + Tam Bích thuộc sao Lộc Tồn, hành Mộc
    + Tứ Lục thuộc sao Văn Khúc, hành Mộc
    + Ngũ Huỳnh thuộc sao Liêm Trinh, hành Thổ
    + Lục Bạch thuộc sao Vũ Khúc, hành Kim
    + Thất Xích thuộc sao Phá Quân, hành Kim
    + Bát Bạch thuộc sao Tả Phụ, hành Thổ
    + Cửu Tử thuộc sao Hữu Bật, hành Hỏa

    - Nhận xét:
    + Về Ngũ hành các sao giữa hai phái có khác nhau như ngũ hành sao Tham lang, sao Lộc Tồn, Văn khúc, sao Liêm Trinh, sao Tả Phụ, Bồ Chúc; chỉ có 3 sao là Cự Môn, Vũ Khúc, Phá Quân là giống nhau. Vậy thì ta tin thuyết của phái nào?
    + Về sao tốt, sao xấu và mức độ tốt xấu của nó giữa 2 phái cũng có quan điểm khác nhau. Phái Bát Trạch phân định rạch ròi là Tham Lang, Cự Môn thượng kiết; Vũ Khúc, Tả Phụ, Bồ Chúc thứ kiết; Liêm Trinh, Phá Quân đại hung; Văn Khúc, Lộc Tồn thứ hung. Trong khi đó phái Huyền Không thì phân định ý nghĩa tốt xấu từng sao tùy theo vận. Đương vận thì tốt, thất vận thì xấu; sao đương vượng, sao tiến khí thì tốt, sao thoái khí, suy khí, tử khí thì xấu.
    Trước bối cảnh này nếu ta lấy lý thuyết phái Huyền Không để biện bạch thì sẽ bị phái Bát Trạch “tự ái” . Vì đây là “chuyện riêng” của phái Bát Trạch. Như vậy ta phải dựa theo lý thuyết của Bát trạch để lý giải sẽ dễ được chấp thuận hơn.
    Theo ngũ hành của Cửu tinh ở phái Bát Trạch xắp xếp ta thấy ngũ hành của ba sao tốt sinh ra ngũ hành của 3 sao xấu. Cụ thể là sao Sanh Khí Tham Lang dương Mộc sinh cho sao Ngũ Quỷ Liêm Trinh âm Hỏa; sao Thiên Y Cự Môn dương Thổ sinh cho sao Tuyệt Mạng Phá Quân âm Kim; Diên Niên Vũ Khúc dương Kim sinh cho sao Lục Sát Văn Khúc dương Thủy. Cách sắp xếp này cho ta một suy luận rằng: Một người nào đó day cửa phạm hướng xấu, sẽ bị những điều xấu đưa đến cho gia đình, nhưng khi quay miệng lò bếp theo hướng tốt theo bài “Cửu Tinh chế phục” thì sẽ sinh ra những điều tốt đẹp bù trừ được những điều xấu đã đề cập. Cũng có thể nhìn nhận tinh ý ở đoạn này là phạm hướng xấu hoặc được hướng tốt đều thông qua tuổi chủ nhà mà ra chứ không phải tự nhiên sao bay đến để chế ngự lẫn nhau. Táo vi nội, môn vi ngoại (Bếp ở trong nhà, cửa ở ngoài). Những hướng tốt của lò bếp sinh cho những hướng xấu của cửa, hàm ý là khí lực trong nhà mạnh hơn ở ngoài cho nên được tốt đẹp. Riêng sao Phục Vị Tả Bồ âm Thủy không thể sinh ra sao Họa Hại Lộc Tồn âm Thổ mà ngược lại bị Lộc Tồn khắc chế. Vì vậy cho nên bài “Cửu tinh chế phục” nêu trên không đưa trường hợp của sao Phục Vị Tả Bồ và sao Họa Hại Lộc Tồn vào chứ không phải Cụ Thái Kim Oanh bỏ sót. Theo tôi, để giải sao Họa Hại Lộc Tồn âm Thổ thì dùng sanh khí Tham lang dương Mộc chắc chế vẫn tốt (Nghĩa là phải day miệng lò sang hướng Sanh Khí ). Cứ theo sách của Cụ Thái Kim Oanh tôi lý giải như thế, nếu quý bạn tìm được ở bộ sách nào khả tín ( ở phái Bát Trạch) có đề cập đến ngũ hành của sao Phục Vị Tả Bồ thuộc hành Hỏa thì tôi nhất trí rằng Phục Vị trừ đặng Họa Hại, còn không thì thôi.
    (Tôi cũng có đọc sách Bát Trạch Minh Cảnh của Dương Quân Tùng trang 144 xác định Phục Vị Tả Phù thuộc Mộc. Sách “Thẩm Thị Huyền Không Học” của Thẩm Thúc Nhưng, trang 163, cũng nói Phục Vị có ngũ hành là Dương Mộc. Còn trong Tử vi Hàm Số của Nguyễn Phát Lộc, trang 346 thì ngũ hành cả hai sao Tả Phụ + Hữu Bật đều là Thổ. Riêng cái tên “Bồ Chúc” thì thuộc hành gì, nó là đại biểu của sao nào trong cửu tinh thì không thấy sách nào nhắc đến. Dù hai cuốn sách phong thủy nói trên xác định Phục Vị là hành Mộc nhưng tôi không tin tưởng vì nhóm hậu học không có những phiên bản gốc mà chỉ sao chép từ những sách đã bị sai, lâu ngày thành lệ.
    Tôi tìm hết trong sách Kim Oanh Ký 2 để xem Cụ biên tập có sự sai lệch gì về ngũ hành của sao Phục Vị hay không nhưng rất ít thấy Cụ nhắc đến “Phục Vị ”. Tôi suy từ các đồ hình minh họa ở trang 41- 48 thấy Cụ đều xác nhận ngũ hành của sao Phục Vị là âm Thủy. Duy chỉ có ở trang 21, mục “Niên ngoạt kiết hung ứng” Cụ trích dẫn “Sanh Khí, Bồ Chúc, Hợi Mẹo Mùi, hai vị này ứng năm và tháng Hợi Mẹo Mùi”. Khi nhắc đến Hợi Mẹo Mùi tức thị nó là hành Mộc. Nhưng hành Mộc vẫn được Thủy tương sinh (Thủy sinh Mộc ), vẫn tương ứng với lý thuyết. Đến trang 53 ở dòng cuối cùng, Cụ trích dẫn “Hiệp Phục Vị Bồ Chúc Thủy tinh đặng tiểu phú, ngày ngày có tiểu tài tấn ích, phát giàu, ứng tại Hợi Mẹo Mùi niên ngoạt ” và trang 77 Cụ trích dẫn “chỉ luận táo khẩu hướng, 3 phương kiết vi nghiễm” (chỉ luận hướng miệng lò, 3 phương tốt là nghiêm túc). Như thế đã quá rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đồ hình minh họa từ trang 41 đến trang 48 trong sách Kim Oanh ký 2 là từ sở học của Cụ mà ra, còn câu trích dẫn ở trang 21 là Cụ dựa vào sách cũ. Mà ta biết rằng trong sách cũ có lắm điều rắc rối. Hơn nữa Cụ đã tổng hợp 3 bộ Bát Trạch Minh Cảnh để viết nên bộ sách này,chắc chắn Cụ đã chỉnh lý. Xét về tuổi tác, sở học của Cụ và thời điểm lịch sử, tôi tin tưởng hình đồ minh họa của Cụ hơn, nghĩa là tôi xác nhận ngũ hành của sao Phục Vị Tả Bồ là âm Thủy chứ không phải nó là hành Mộc, Hỏa, Thổ gì cả). Vậy bài “Cửu tinh chế phục” không có gì sai sót!
     
  2. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 2 : Bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh cần chỉnh sửa.

    Nguyên văn:
    Càn Tuất Hợi sơn tùng “Tỵ” khởi
    Khảm Quý Nhâm địa hướng “Thân” cầu
    Đoài Canh Tân vị Phòng “Xà” tẩu
    Khôn Mùi Thân sơn “Giáp” thượng tầm
    Ly Bính Đinh vị thị “Hổ” đầu
    Tốn Tỵ Long thân “Hầu” vi thủ
    Sửu Cấn Dần sơn phùng “Hợi” vị
    Chấn Mão Ất vị hướng “Trư” du
    Bát Quái Trường Sinh khởi Phước Đức
    Vô nghĩa chi nhân bất khả cầu
    Phần ghi chú của soạn giả Thái Kim Oanh: “Các bộ Bát Trạch Minh Cảnh khởi Phước Đức đúng 3 cung Càn Khảm Cấn mà thôi, còn 5 trạch nọ khác nhau nên soạn giả an theo bài của Môn Lầu Ngọc Bối Kinh trên đây”.
    Theo ghi chú của soạn giả, ta nhận thấy ngay giữa các bộ sách nói về cung khởi Phước Đức đã không nhất quán. Riêng trong bài này tôi thấy vẫn có một vài sự nhầm lẫn hoặc là do sao chép hoặc là do người đánh văn bản gây ra… khiến cho người dụng sự lúng túng khi nghiên cứu đến việc an môn. Theo ý của câu thứ 9 “Bát Quái Trường Sinh khởi Phước Đức” nghĩa là cung khởi Trường Sinh chính là cung khởi Phước Đức rồi từ đó tính thuận tiếp đến 23 sơn còn lại (24 sơn hướng đã nêu trên la bàn chuyên dùng). Có 4 cung khởi Trường Sinh gọi là tứ sinh là Dần Thân Tỵ Hợi; tứ vượng là Tý Ngọ Mẹo Dậu; tứ mộ là Thìn Tuất Sửu Mùi và tứ tuyệt cũng là Dần Thân Tỵ Hợi (cho nên trong “Tứ Thủy Tràng Sinh pháp”- sách địa lý Tả Ao tiên sinh- có cách- “Tuyệt xứ phùng Sinh” là vậy). Tùy theo ngũ hành của Cục có Mệnh, Cung, Can, Chi thuộc hành gì thì sẽ có cung khởi Trường Sinh, Cụ thể:
    - Hành Thủy, Thổ khởi Tràng Sinh tại cung Thân
    - Hành Mộc khởi Tràng Sinh tại cung Hợi
    - Hành Hỏa khởi Tràng Sinh tại cung Dần
    - Hành Kim khởi Tràng Sinh tại cung Tỵ
    Như vậy ta thấy câu 1, 2, 3, 5, 8 của bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh là đúng cách khởi Tràng Sinh, còn lại câu 4, 6, 7 đều sai! Tại vì:
    - Câu 4 “Khôn Mùi Thân” tức quẻ Khôn thuộc hành Thổ, mà hành Thổ thì khởi Tràng Sinh tại Thân. Trong bài này nói khởi tại “Giáp” là sai (có thể người xưa do sao chép, nét chữ mờ nhạt nên nhầm chữ Thân 申 qua chữ Giáp 甲 )
    - Câu 6 “Tốn Tỵ Long” thuộc quẻ Tốn thuộc hành Mộc, mà hành Mộc thì khởi Tràng Sinh tại Hợi. Trong bài này nói khởi “Hầu” là sai (Hầu nghĩa là con khỉ ứng với cung Thân)
    - Câu 7: “Sửu Cấn Dần” thuộc quẻ Cấn thuộc hành Thổ, mà hành Thổ khởi Tràng Sinh tại Thân. Trong bài này nói khởi tại “Hợi” là sai.
    (Có thể người đánh văn bản đánh nhầm chữ từ câu trên xuống câu dưới và ngược lại)
    Đề nghị chúng ta nên mạnh dạn chỉnh sửa lại cung khởi Trường Sinh Phước Đức đúng như tôi đã phân tích. Nghĩa là câu 4 và câu 7 khởi Tràng Sinh tại Thân, câu 6 khởi Tràng Sinh tại Hợi

    Ghi chú: Việc nhầm lẫn, sai lêch từ nhiều nguyên nhân… không ít thì nhiều sách nào cũng đều mắc phải. Nhân tiện tôi cũng đưa ra một vài sự nhầm lần tương tự như trong trường hợp này. Đó là

    - Trường hợp I: Sách Bát Tự Lữ Tài của Cụ Thái Kim Oanh và Ngọc Hạp Chánh Tông của thầy Viên Tài Hà Tấn Phát in nhầm ngày có Thiên Đức trong tháng 11 Âm lịch là ngày Kỷ. Kì thật chính xác của nó là ngày Tỵ (vì người ta nhầm chữ Tỵ 巳 thành chữ Kỷ 己 ). Bởi vì ta biết rằng trong mỗi mùa có 3 tháng: tháng đầu là Mạnh, tháng giữa là Trọng, tháng cuối là Quý. Như vậy trong 1 năm, tháng Mạnh là tháng 1, 4, 7, 10 ; tháng Trọng là tháng 2, 5, 8, 11 ; tháng Quý là tháng 3, 6, 9, 12. Theo cách bố trí ngày có Thiên Đức trong sách thì tháng 2 là ngày Thân, tháng 5 ngày Hợi, tháng 8 ngày Dần. Thử hỏi lý do gì mà ngày có Thiên Đức ở tháng 11 không phải ngày Tỵ mà bảo là ngày Kỷ. Tôi xin nhắc lại ngày Dần Thân Tỵ Hợi là Nhân nguyên thì phải sắp xếp nó ứng với tháng Trọng mới đúng, không thể thay thế chữ Tỵ thành chữ Kỷ.

    - Trường hợp II: Cũng trong sách Ngọc Hạp Chánh Tông của thầy Viên Tài Hà Tấn Phát nói về ngày Sát Chủ rằng tháng 7 ÂL Sát chủ ngày Hợi, tháng 8 ÂL Sát chủ ngày Sửu. Đây là sự nhầm lẫn do lỗi người đánh văn bản trước đây. Tôi xin sửa lại là tháng 7 ÂL Sát chủ ở ngày Sửu, tháng 8 ÂL Sát chủ ở ngày Hợi. Điều này rất ứng với 2 câu thơ tìm ngày Sát chủ được trích trong Bát Tự Lữ Tài, trang 6 của Cụ Thái Kim Oanh: “loài Kim Ngưu” lên non “thất” trấn, viện Trư đầu xuống đánh “bát” quan”.
    Còn nhiều trường hợp khác nữa nhưng vì để khỏi bị tản mạn, tôi xin tạm dừng và trở lại với chủ đề chính.
     
  3. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 3 : Xác định tọa trạch hay hướng trạch để an môn

    Nắm vững ý tưởng của bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh rồi nhưng vẫn có người thắc mắc về cách áp dụng của Cụ Thái Kim Oanh khi Cụ đưa lên đồ hình bát quái về cách an môn trong 8 trạch. Nếu lấy lý luận của Cụ ở mục “thêm rộng nghĩa” (trang 39 sách đã dẫn) để so sánh với đồ hình đã nêu thì thấy có sự khác biệt (tôi không biết đăng hình lên mạng nên chỉ diễn giải bằng lời, các bạn nên xem trong sách của Cụ từ trang 41 đến 48 sách đã dẫn). Xin trích nguyên văn lời Cụ nói: “Muốn biết rõ kiết hung họa phúc, phải biết chủ nhà ấy Cung gì? Sẽ đặt la bàn (địa bàn, boussole) chính giữa nhà ấy, tức là đặt ngay chính giữa cây đòn dông, cây kim la bàn luôn luôn chỉ hướng chánh Bắc, tất bạn biết đặng ngôi nhà ấy trạch gì. Giả như nhà ấy day cửa hướng Nam là nhà trạch Ly (hướng Nam là hướng Ly) hoặc day hướng Đông Bắc là hướng Cấn là nhà ấy trạch Cấn” (hết trích).
    - Lấy ví dụ Cụ thể trường hợp nhà trạch Càn theo Cụ giảng giải là nhà day cửa hướng Tây Bắc (đồ hình trang 41). Theo bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh thì hễ nhà trạch Càn (Tuất Càn Hợi) thì khởi Tràng Sinh Phước Đức tại Tỵ. Nhưng khi so sánh với đồ hình minh họa trạch Càn của Cụ thì thấy cung khởi Tràng Sinh Phước Đức tại Thân.
    - Tương tự nhà trạch Khảm (đồ hình trang 42) nhà day cửa hướng Bắc, theo bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh phải khởi Tràng Sinh Phước Đức tại Thân nhưng đồ hình minh họa trạch Khảm lại thởi Tràng Sinh Phước Đức tại Dần.
    - Các trạch còn lại cứ thế mà suy…
    Như vậy sự thắc mắc của nhiều người như tôi đã nêu là có cơ sở. Thế nhưng xét cho tường tận thì tại vì họ không chú ý đến nguyên tắc cơ bản của phái Bát trạch là lấy Tọa làm chính chứ không phải lấy hướng làm chính. Toàn bộ 8 đồ hình minh họa của Cụ từ trạch Càn đến trạch Đoài Cụ đều lấy Tọa trạch để khởi Tràng Sinh Phước Đức, thế nhưng các cung khởi Phước Đức thì Cụ vẫn áp dụng nguyên văn bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh mà Cụ trích dẫn ở trang 29.
    Thế thì chúng ta nên dùng Tọa trạch để khởi Trường Sinh Phước Đức chứ đừng dùng Hướng trạch mà phạm sai lầm và nên dùng bài Môn Lầu Ngọc Bối Kinh đã chỉnh lý ở câu 4, 6, 7 để khởi Tràng Sinh Phước Đức mới đúng.
     
  4. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 4 : Tại sao những hướng tốt như Sanh Khí, Thiên Y, Diên Niên hoặc Phục Vị có người không dùng được?

    Xét đồ hình minh họa 8 trạch của Cụ Thái Kim Oanh ta thấy dưới mỗi trạch có một nhóm từ cảnh báo “kị tuổi này” nhưng Cụ không trực tiếp giải thích rõ ràng mà đâu đó trong quyển sách này Cụ cũng đã đề cập lướt qua. Theo tôi thì chúng ta chỉ cần nghiền ngẫm bài viết ở trang 20 sách Kim Oanh Ký 2 sẽ rõ. Trích nguyên văn: ”Tham, Cự, Võ, Văn vi dương tinh. Lộc, Bồ, Liêm, Phá vi âm tinh. Càn, Khảm, Cấn, Chấn vi dương cung. Tốn, Ly, Khôn Đoài vi âm cung. Cung vi nội, tinh vi ngoại, nội khắc ngoại, bán hung. Ngoại khắc nội, toàn hung. Dương tinh khắc âm cung, bất lợi nữ. Âm tinh khắc Dương cung, bất lợi Nam”.
    Ở đây chúng ta không nên dùng Huyền Không Phi Tinh để giải thích mà chỉ cần bám chắc tinh ý của đoạn trích vừa rồi cũng đủ lý lẽ để giải thích được.
    Minh họa bằng đồ hình trạch Khảm (nhớ là lấy hướng cửa chính như Cụ đã thuyết minh: tuổi Chấn được Thiên Y nhưng “kị tuổi này” là vì trong 8 tuổi chỉ có tuổi Chấn phối hợp với trạch Khảm được Thiên Y mà Thiên Y thuộc sao Cự Môn là dương tinh, là dương Thổ, là ở ngoài (tinh vi ngoại). trạch Khảm thuộc hành Thủy, là dương Thủy, là dương cung là ở trong (cung vi nội), là đại diện cho trung nam. Ta thấy dương tinh Cự Môn Thổ khắc dương cung Khảm Thủy cho nên toàn hung. Khảm là trung nam nên ứng hại cho con trai giữa. Vì vậy người tuổi Chấn phải kiêng kị.
    - Các trạch khác cứ thế mà suy.
    Xin nói thêm với các bạn rằng: ngoài cách lý luận đề cập đối với các hướng tốt, chúng ta cũng lấy cách lý luận này đối với các hướng xấu, rất ứng nghiệm. Cứ thử xem!
     
    2 people like this.
  5. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 5 : Căn cứ vào yếu tố nào để xác định hướng cửa tốt xấu?

    Hiện nay điều mà người ta quan tâm nhất và thắc mắc nhiều nhất là : Căn cứ vào yếu tố nào để xác định cửa chính của một ngôi nhà được hướng tốt hoặc phạm hướng xấu? Trường hợp hướng nhà và hướng cửa chính khác nhau thì phương pháp chế phục như thế nào?
    Bàn luận về điều này chắc chắn ai ai cũng thống nhất là chủ nhà! Thế nhưng chủ nhà nam hay nữ (chồng hay vợ). Tôi xin trích một số quan điểm của các vị tiền bối xác định điều này như sau:
    - Theo thầy Viên Tài Hà Tấn Phát trong sách ” Bát Trạch Chánh Tông”, trang 28 có nói ( trích nguyên văn: ‘’ theo sách địa lý cũng có nói rằng ‘’nhứt gia vi trưởng, nhứt thành vi chủ’’. Chỉ có chủ nhà mới chịu ảnh hưởng của các phương hướng cái nhà đang ở. Về địa lý thì người vợ không có ảnh hưởng gì. Nhưng khi người đàn bà ở độc thân (nghĩa là không có chồng) mới lấy phương hướng riêng cho tuổi người đàn bà’’)
    - Theo cụ Thái Kim Oanh trong sách Bát Trạch Minh Cảnh, trang 55 có nói ( trích nguyên văn: ‘’Đẩu linh kinh vân: phàm định phương hướng chỉ luận gia trưởng niên mạng- nhược gia trưởng một hậu (thác mất) dĩ trưởng tử sanh mạng định chi. Nhược chỉ hữu chủ mẫu đương gia, dĩ chủ mẫu vi chủ’’ (nói nôm na rằng: để định phương hướng tốt xấu thì phải lấy tuổi của chủ nhà làm chính, nếu chủ nhà thác mất thì lấy tuổi con trưởng để áp dụng. Trường hợp nhà ấy chỉ có một mình người mẹ đang ở thì lấy tuổi của người này làm chủ tính toán.
    - Theo nhóm hậu học của Thẩm Trúc Nhưng trong sách Thẩm Thị Huyền Không học, trang 153 có nói (trích nguyên văn: ‘’Theo các nhà phong thủy Bát Trạch, con người có thể lựa chọn nhà ở cho vừa ý, nhưng mệnh quái của người ấy thì cố định không thể lựa chọn hay thay đổi được; vì vậy chỉ nên chọn nhà ở tương phối với mệnh quái. Lý luận của phái Bát Trạch là lấy mệnh quái của người chủ gia đình (tức người trụ cột có nguồn thu nhập chính trong gia đình) làm chuẩn’’
    Qua những trích dẫn trên chắc quý bạn cũng đã tìm được đáp án. Tôi chỉ bàn thêm một ý nữa là hường nhà và hướng cửa không trùng nhau thì sao?
    Ví dụ như ngôi nhà tọa Khôn hướng Cấn nhưng đại môn (cửa chính) day về hường Tốn thì phải lấy hướng cửa làm chính, tức là lấy hướng Tốn để so với tuổi chủ nhà, từ đó xác định tốt xấu thế nào rồi mới áp dụng bài ‘’cửu tinh chế phục’’.
    Hiện tại vẫn có một số thầy phong thủy dựa vào một số quan điểm của một số tác giả viết sách trôi nổi trên thị trường (chép tay nên không biết tác giả) đã áp dụng phương pháp ‘’đàn ông hướng nhà, đàn bà hướng bếp’’ tức là muốn biết hướng nhà ấy tốt xấu như thế nào thì phải lấy mệnh quái của người chồng để so sánh, còn hướng bếp thì phài lấy mệnh quái của người vợ để so sánh.
    Lập luận trên họ dựa vào câu: ‘’chủ tướng vi nguyên gia, nội tướng vi táo tòa’’. Điều này tôi thấy rất nghịch lý, bởi vì theo như ý nghĩa của bài “cửu tinh chế phục’’ đã nêu, nếu tuổi người chồng (chủ nhà) so với hướng cửa chính phạm một trong 4 hướng xấu mà lại lấy tuổi của người vợ để sửa hướng bếp cho đúng phương vị tốt để hóa giải hướng xấu cho chồng thì thật là bất ổn. Dễ thấy nhất là trường hợp chồng tuổi Tây Trạch, vợ tuổi Đông Trạch và ngược lại. ví dụ cụ thể người chồng tuổi Khôn, vợ tuổi Chấn, nhà để cửa hướng Bắc. Rõ ràng là tuổi chồng phạm Tuyệt Mạng. Muốn hóa giải Tuyệt Mạng cho chồng thì quay bếp hướng Thiên Y của vợ là hướng Khảm và vị trí đặt lò bếp theo tuổi vợ là phương Tây Nam. Quý bạn có thấy sự lộn xộn như một đống tơ vò hay không? Vậy tôi đề nghị mọi người nên bác bỏ lối lập luận này cho nhẹ cái đầu của mình.
     
    Vũ Kỵ thích bài này.
  6. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 6: SINH CON NĂM NÀO CHO TỐT?

    Vấn đề này xem ra cũng đã quá cũ kĩ rồi nhưng gọi là "đồ cổ", thì khi thấy có cái gì hay cứ nghiên cứu, mổ xẻ cho vui! Bạn nào tin tưởng thì cứ mạnh dạn áp dụng, hiệu ứng khá tốt!
    Câu nói sinh con năm nào cho tốt hoặc sinh con để hóa giải xung khắc hoặc sinh con năm nào cho hợp tuổi cha mẹ… Tất cả những câu nói ấy cùng một nội dung là phải tính toán làm sao khi sinh một đứa con ra đời thì sự cộng hưởng tuổi tác của nó với cha mẹ, anh em, những người cùng sống trong một nhà được tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Điều mà các bậc cha mẹ thường quan tâm nhất là sức khỏe cả nhà đều tốt, thứ đến là vấn đề kinh tế của gia đình phải vươn lên hoặc ít ra cũng phải giảm bớt những khó khăn về vật chất, công việc làm ăn không bị thất bại. Vấn đề này có rất nhiều cách lý giải khác nhau:
    1/ Dựa vào ngũ hành: Người ta dùng ngũ hành nạp âm của Tuổi để phối hợp với nhau ở thế tương sanh hoặc tỵ hòa là tốt. Ví dụ: cha tuổi Đinh Mẹo (Lư Trung Hỏa), mẹ tuổi Kỷ Tỵ (Đại Lâm Mộc) thi phải sinh con năm có mạng Hỏa hoặc mạng Mộc. Nhớ là mạng của con tỵ hòa hoặc sinh cho mạng của cha, mẹ, hoặc cà 2 thì mới tốt (các bạn tự tìm trong bảng Lục Thập Hoa Giáp ắt sẽ biết). Đó là trường hợp tuổi cha, mẹ có ngũ hành nạp âm tương sanh, còn nếu bị tương khắc thì tuổi của con phải có ngũ hành nạp âm đệm vào giữa tuổi của cha mẹ để tạo một dây chuyền tương sinh. Ví dụ cha tuổi Ất Sửu (kim), mẹ tuổi Bính Dần (Hỏa) thì phải sinh con năm có ngũ hành nạp âm là Thổ để tạo dây chuyền Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Nhớ là tuổi của con đệm vào giữa tuổi cha - mẹ hoặc mẹ - cha mới đúng lý.
    2/ Dựa vào thiên can, địa chi: Nếu một đứa con sinh ra nhằm vào những thiên can hoặc địa chi phá nhau, khắc nhau, xung nhau… thì không tốt.
    - Ở thế khắc phá nhau: Giáp phá Mậu, Ất phá Kỷ, Bính phá Canh, Đinh phá Tân, Mậu phá Nhâm, Kỳ phá Quý, Canh phá Giáp, Tân phá Ất, Nhâm phá Bính, Quý phá Đinh.(toàn bộ ngũ hành khắc nhau)
    - Ở thế xung nhau: Tý xung Ngọ, Mẹo xung Dậu, Dần xung Thân, Tỵ xung Hợi, Thìn xung Tuất, Sửu xung Mùi.
    Do đó phải tìm năm hợp:
    - Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mẹo Mùi
    - Tứ sanh : Thân sinh Tý, Tỵ sinh Dậu, Dần sinh Ngọ, Hợi sinh Mẹo.
    - Lục hợp: Giáp hợp kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý.(Một dương hợp một âm)
    Nếu gặp trường hợp Thiên can của cha mẹ ở thế phá nhau, khắc nhau… thì cũng phải tìm thế hóa, tiết khí hoặc tương sinh như trường hợp 1 (tất cả phải quy về ngũ hành để luận: Giáp Ất Mộc, Bính Đinh Hỏa, Canh Thân Kim, Nhâm Quý Thủy, Mậu Kỷ Thổ…). Các bạn tự ví dụ suy nghiệm.
    3/ Dựa vào bát quái: Ở đây chỉ lưu ý đến cung phi Bát Trạch chứ không đề cập cung sanh. Vậy có 2 nhóm:
    - Đông Trạch: Khảm Chấn Ly Tốn.
    - Tây Trạch: Càn Khôn Cấn Đoài.
    Đông phối với Đông hoặc Tây phối với Tây thì tốt.
    Đông phối với Tây hoặc Tây phối với Đông thì không tốt.
    Điều này bạn nào học qua lý khí Bát Trạch ắt sẽ rõ (nghĩa là lấy mạng Trạch của con để phối hợp với mạng Trạch của cha mẹ).
    Như vậy cha mẹ cùng tuổi Đông thì chọn năm Đông mà sinh con. Cha mẹ cùng tuổi Tây thì chọn năm Tây mà sinh con. Trường hợp cha Đông, mẹ Tây hoặc ngược lại thì tùy sự suy luận của chúng ta nên áp dụng như thế nào cho hợp lý là được.(hoặc hợp cha, hoặc hợp mẹ). Các bạn tự cho ví dụ.
    4/ Dựa vào bàn tay Mẫu tầm Tử:
    Theo cách này thì lấy tuổi của người mẹ tính tới năm sinh con tất sẽ biết tốt xấu (phương pháp rất đơn giản nhưng chưa chắc đã chính xác, cần xem lại!).
    a) Phương pháp 1: Nhất canh điền - Nhì bĩnh bút - Tam phương tiện - Tứ lợi khẩu - Ngũ phục dược - Lục vi sư
    b) Phương pháp 2: Nhất hồng nhan - Nhì bạc phận - Tam bạc mệnh - Tứ vô duyên - Ngũ can quyền - Lục thủ ấn
    c) Phương pháp 3: Nhất con Phật - Nhì con Trời - Tam con người - Tứ con ta - Ngũ con ma - Lục con quỷ
    d) Phương pháp 4: Nhất an, Nhì cư, Tam lợi, Tứ hại, Ngũ sát, Lục phú, Thất bại, Bát vong

    Ví dụ người mẹ tuổi Kỷ Tỵ muốn sinh con vào năm Mậu Tuất 2018 được chữ gì?
    - Mẹ tuổi Tỵ tính là 1, Ngọ là 2, Mùi là 3, Thân là 4, Dậu là 5, Tuất là 6: được số 6. Tra 4 phương pháp nói trên ta được chữ sư, thủ ấn, quỷ, phú. Tốt xấu tôi không luận, nhường cho các bạn tự luận (dựa vào ý từ mà luận)

    5/ Dựa vào Tử Vi và Tứ Trụ: Đối với câu hỏi sinh con năm nào cho tốt, theo tôi có 2 trường hợp:
    a) Tốt cho cha mẹ, tức là phải tính toán năm sinh con cho hợp với cha mẹ, giúp cho cha mẹ tốt hơn lên. Trường hợp này chưa chắc là số của con đã tốt. nếu tin tưởng thì cứ áp dụng mục 1, 2, 3, để suy đoán tổng quát, còn muốn đi sâu vào chi tiết thì không bỏ qua yếu tố Tử Vi Tứ Trụ vì 2 yếu tố này phản ánh rất cụ thể tình hình tốt xấu thịnh suy… của cha me. Nó buộc phải có sự tính toán và cân nhắc trước về giờ ngày tháng năm sinh của đứa bé, nghĩa là phải có sự chủ động của cha mẹ quyết định giờ sinh của đứa bé ấy. Điều này đã có nhiều tranh luận gắt gao về vấn đề nên hoặc không nên. Tôi không bàn ở đây nữa. Các bạn tự suy nghiệm.

    b) Tốt cho bản thân đứa bé: Nếu chỉ xem tổng quát thì có thể áp dụng mục 4. Sâu hơn một chút thì chọn tháng sinh thuộc ngũ hành nào cho tương sanh hoặc tỵ hòa với ngũ hành nạp âm của năm ấy, nghĩa là xem tháng sinh, vượng mà sinh con để được gọi là hợp mùa sinh tạo sự thuận lợi cho đứa bé sau này.Ví dụ: Sinh con năm Mậu Tuất 2018 thì phải sinh vào tháng 1, 2 ÂL hoặc tháng 10, 11 ÂL, bởi vì tháng 1, 2 là tháng vượng và tháng 10, 11 là tháng sinh của năm Mậu Tuất (Bình Địa Mộc). Cái cơ bản nhất cũng là việc quyết định giờ ngày tháng năm sinh cho đứa bé (như tôi vừa nêu ; nên hay không nên?).
    - Ghi chú
    Phương pháp này còn có thể dùng để xem tuổi hùn hiệp làm ăn, lập ê kip, xem tuổi xông nhà đầu năm… Chúng ta linh hoạt áp dụng! Đừng thắc mắc nhiều nha! 
     
    2 people like this.
  7. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 7 : Phụ Mẫu tầm tử tuế- Khương Thượng chi thủ
    (Bài sưu tầm để bổ sung thêm cho bài 6)

    Tục gọi là Âm Dương tầm tử ,thọ thai nhờ khí huyết của cha mẹ sinh ra con cái.
    Phải tính theo thứ tự như dưới đây:
    1.Quyền quý 2.Nhân từ 3.Hung bạo 4.Khoái lạc 5.Ly tổ 6.Nông nghiệp 7.Phá bại 8.Thương trường 9.Đắc lộc 10.Vô duyên 11.Hữu duyên 12.Cô quả.

    Ý nghĩa 12 cung :
    1.Quyền quý
    Gặp chữ quyền quý tốt thay.
    Thông minh sáng dạ ít ai dám bì.
    Cầm viết ,đọc chữ đề thi,
    Siêng năng ắt đậu vậy thì chẳng sai.
    Gặp lúc niên vận thời may,
    Trúng chữ quyền quý sinh thai đặng mùa .
    Cũng như bông trái nở đua,
    Gặp xuân được tốt thuận mùa giúp ta.
    Người có trí óc sâu xa ,
    Gặp thời dốt nát được mà làm quan.
    Không thầy ,cũng thợ ,cũng làng,
    Chủ khóm ,chủ ấp ,được sinh tuổi mình.
    Nữ nhân trúng tuổi :thông minh,
    Học hành thêu tiểu gia đình quản bao.
    Có chồng gặp chổ sang giàu ,
    Gặp nơi quyền quý mai sau hưởng nhờ.

    2.Nhân từ
    Sinh mà gặp chữ nhân từ,
    Thấy ai nghèo khó tiền dư giúp liền.
    Gần kẻ nhân đức lòng hiền ,
    Lánh xa kẻ dữ đảo điên tâm tà.
    Giận ai một chút rầy la,
    Lòng không cố chấp người ta làm gì .
    Ai tới cậy mượn sự chi,
    Giúp tiền ,giúp của ,lại còn giúp công.
    Ngày sau đem dạ phản tâm,
    Để lâu đòi hỏi : mặt đầm mắng ta .
    Làm quen cũng tới lân la ,
    Năn nỉ hỏi mượn : thì ta cũng giùm.
    Miệng mở như hổ như hùm,
    Khẩu xà tâm phật giận cùng làm chi.
    Lâm nguy người khác giải nguy.
    Giúp đỡ người đó ,mong gì trả ơn .

    3.Hung bạo
    Hung bạo như thể Tần binh,
    Tàn sát thiên hạ đốt dinh nhà Tần.
    Anh em cô bác thích thân,
    Đi xa thương nhớ ,ở gần khắc xung.
    Bạc tiền người dưng giúp cùng,
    Anh em giàu có thì ta không màng.
    Làm ăn bạo phát bạo tàn ,
    Tiền bạc như nước cũng tan hết liền.
    Tính người nóng nảy tự nhiên,
    Gặp ai thách đố ,chẳng kiêng sợ gì .
    Ai mà biết lỗi thì thôi ,
    Gặp mà năn nỉ một hồi dịu ngay.
    Thương người lỡ bước trái tay ,
    Bạc tiền ta giúp ,sau này quên ơn .
    Có hỏỉ sinh giận sinh hờn ,
    Đòi lâu không trả nổi cơn la rầy .

    4.Khoái lạc
    Gặp chữ khoái lạc sinh ra,
    Ham trồng kiểng vật ,bông hoa trưng bày .
    Cải lương ,hát bội nào hay,
    Hồi lúc thuở nhỏ đêm ngày cùng đi,
    Cửa nhà sơn phết tứ vi ,
    Treo hình ,dán liễn xem thì đẹp thay.
    Nữ nhân trâm giắt ,lượt cài ,
    Thoa son ,đánh phấn giồi mài thấy mê.
    Áo quần thì sắm phủ phê,
    Đủ màu đủ sắc tứ bề nghênh ngang.
    Tai nghe kèn thổi trống vang,
    Cha mẹ cản trở chẳng an trong lòng.
    Đổ bác không sót một sòng ,
    Ai kêu ai rủ cũng dong đi liền,
    Trước thời phá của chẳng yên ,
    Hậu vận làm có bạc tiền tụ ngay.

    5.Ly tổ
    Sinh nhằm ly tổ bằng nay ,
    Không nhỏ thì lớn cách rày mẹ cha.
    Giàu có ăn học xứ xa,
    Lâm vô nghèo khổ trốn mà bỏ đi
    Nhiều lúc chịu chữ hàn vi ,
    Đi xa xứ khác vậy thì làm nên.
    Đầu tiên cầm của chẳng bền ,
    Giống của phi lý ,như lên mây hồng.
    Nhiều lớp nhà cửa không xong,
    Mua cất rồi bán long đong đi hoài .
    Tuổi muộn rồi cũng có ngày ,
    Gia đình đứng vững ở rày mới an .
    Tuổi nhỏ lao lý chớ than,
    Ba mươi bạo phát rã tan có hoài .
    Ở cho ngay thẳng mới hay ,
    Nhờ trời ngó lại có ngày ắt nên .

    6.Nông nghiệp
    Nông nghiệp cố gắng giàu ngay,
    Thức khuya dậy sớm cấy cày phải lo.
    Cày sâu cuốc bẩm đất gò ,
    Đem xuống chỗ trũng đặng cho nước tràn .
    Bạn bè đãi như người sang ,
    Ăn uống tử tế cuốc ban thật tình .
    Đứng ở chúng nó bất bình ,
    Tham công tiếc việc hại mình thất ngay .
    Làm ruộng nhờ cuốc ,nhờ cày ,
    Phát cho sạch gốc cỏ rày không lên .
    Đắp bờ giữ nước đôi bên ,
    Ít bữa dạo ruộng đừng quên hại rày .
    Giữ chữ nông nghiệp cực thay ,
    Hết mùa cấy gặt ,gác cày nghỉ ngơi .
    Lúc trúng ,có giá ăn chơi ,
    Thất ,đong vừa đủ cũng thời có ăn .

    7.Phá bại
    Gặp chữ phá bại chẳng hay,
    Sinh ra đổ bác bạc bài luôn luôn .
    Mẹ cha giàu để của muôn ,
    Bán đánh thua hết nằm buồn thở ra.
    Bán heo ,bán vịt ,bán gà ,
    Đồ đạt cầm hết thua mà sạch trơn .
    Vợ chồng đánh lộn giận hờn ,
    Đập đồ đổ nát còn hơn thua bài .
    Vợ chồng ít bữa nguôi ngoai ,
    Nhà cửa bán hết rồi thì đi buôn .
    Hết vốn nghĩ lại thêm buồn ,
    Gặp chữ phá bại luồng xuồng quá tay .
    Hậu vận cũng đặng khá ngay ,
    Gắng công mài sắt có ngày nên kim.
    Thiệt là ba nổi bảy chìm ,
    Tuổi muộn mới khá trở nên vững vàng .

    8.Thương trường
    Thương trường là nghề bán buôn ,
    Ra đi làm ruộng luôn luôn thất hoài .
    Tức giận không đủ để xài ,
    Tưởng nghề thày thuốc có ngày ắt nên .
    Tính rồi viết bảng treo lên ,
    Dựng kệ , bổ thuốc ,đề tên tuổi rày .
    Coi mạch nói chứng thật hay ,
    Hồi uống không mạnh bệnh ngày nặng thêm .
    Nghề thuốc thấy cũng chẳng êm ,
    Sang qua buôn bán : thử bền hay không ?
    Mua đồ chở đi ắt xong ,
    Vốn liếng mua hết một trăm mười đồng.
    Kéo buồm chạy thẳng hướng Đông ,
    Sáu tháng tính thử được hơn mười ngàn .
    Thuận nghề thương mãi đặng an .
    Mấy nghề làm trước gian nan tứ bề.

    9.Đắc lộc
    Sinh chữ đắc lộc đủ no ,
    Ăn quà ,tiệc cưới : lớp cho lớp mời .
    Đi ngang tiệm phố dạo chơi ,
    Gặp người quen biết kéo thời vào ngay .
    Đã ăn nhậu nhẹt sưa say ,
    Mời anh xin lỗi : trưa mai lại nhà .
    Tôi có kị cơm ông già ,
    Xin đừng mua rượu ,mua trà làm chi .
    Anh đừng tưởng (mời) tôi phải đi ,
    Đâu dám từ chối vậy thì sao nên .
    Thấy người ở xóm kề bên ,
    Mới mốt đám cưới : thiệt hên quá chừng .
    Bốn giờ có đám làm tuần ,
    Chị Hai mới ghé : bảo đừng nấu cơm .
    Chỉ đưa cho mình trái thơm ,
    Sinh nhằm chữ Lộc :quảy đơm mới hoài .

    10.Vô duyên
    Người sinh gặp chữ vô duyên ,
    Tơ hồng lỡ dỡ chẳng yên nơi nào .
    Chổ thấp không dám với cao ,
    Gặp nơi sang trọng ai nào màng chi .
    Mặt mày coi cũng phương phi ,
    Ai thấy cũng ngó cớ gì không thương .
    Cũng con ông Xã ,ông Hương ,
    Tuổi hai kỳ rưỡi lương khương chưa chồng .
    Chàng trai ăn hoc cũng thông ,
    Gặp “vô duyên phận” cũng đồng giống cô .
    Đi đường thấy gái trầm trồ ,
    Đi mau theo chọc : bị cô mắng liền .
    Anh này ăn nói vô duyên ,
    Không có nhân đạo ,không kiêng chút nào ?
    Nói vợ nhiều chỗ biết bao ,
    Duyên tình lở dở chổ nào (cũng) chẳng xong.

    11.Hữu duyên
    Con sinh gặp chữ hữu duyên ,
    Tuổi vừa hai tám (16) nợ duyên ghé lầu .
    Rộn ràng ong bướm lại gần ,
    Kẻ muốn kết nghĩa ,người cần làm sui .
    Lăng xăng kẻ tới người lui ,
    Con tôi hứa gả an nơi đã rồi .
    Con anh có chỗ thì thôi ,
    Uổng cho hai trẻ xứng đôi vợ chồng .
    Duyên nợ hai tuổi chẳng đồng ,
    Khiến anh tới chỗ khó trông nói rày .
    Hữu duyên gặp tuổi con trai ,
    Nhiều chỗ làm mối làm mai thiếu gì ?
    Hiếm nơi hứa gả thiếu chi ,
    Ra đường không chọc gái thời cũng theo .
    Sinh chữ hữu duyên đắc mèo ,
    Vô duyên nam nữ cheo queo một mình .

    12.Cô quả
    Sinh chữ cô quả chẳng may ,
    Làm ăn thiếu hụt không ai giúp mình .
    Số ta vất vả linh đinh ,
    Người dưng giúp đỡ thiệt tình chẳng sai .
    Anh em tới mượn hỏi vay ,
    Thấy mặt làm lãng : ta nay không nhờ .
    Cô bác ai cũng làm lơ ,
    Số ta trơ trọi không nhờ cậy ai .
    Rủi ro té ngửa nằm ngay ,
    Không thấy ai tới nắm tay đỡ mình.
    Trúng tuổi cô quả thiệt tình ,.
    Ngày tối đóng cửa như đinh đóng bè .
    Thân người như thể chiếc ghe ,
    Bị cơn sóng dữ tấp bè cù lao.
    Phải chi ta được sang giàu ,
    Có kẻ tâng bốc trước sau thiếu gì .

    Cách tính :
    Tý -Sửu -Dần –Mão –Thìn -Tị -Ngọ -Mùi –Thân -Dậu -Tuất -Hợi
    Chỉ dùng Địa chi ,không dùng Thiên can.
    Từ cung tuổi của cha tính là 1, thuận từng cung, đếm tới tuổi mẹ rồi thuận tới tuổi con .Mỗi một tuổi không được đếm 2 lần.
    Nếu từ tuổi của cha đếm đến tuổi của mẹ mà gặp tuổi của con trước thì bỏ cung đó không đếm.

    Ví dụ 1 :Cha tuổi Tý -Mẹ tuổi Ngọ –sinh con tuổi Thìn tốt hay xấu?
    - Từ tuổi Tý của cha đếm là 1 –Sừu là 2 –Dần là 3 –Mẹo là 4 – gặp Thìn tuổi của con đứng trước tuổi của mẹ nên không tính, tiếp tục tính qua Tỵ là 5 – Ngọ là 6 - Mùi là 7 , Thân là 8, Dậu là 9, Tuất là 10, Hợi là 11, đến Tý là tuổi cha nên không tính rồi tính tiếp đến Sửu là 12, Dần tính trở lại là 1, Mẹo là 2, Thìn là 3. Vậy người con được con số 3 tương ứng với Hung Bạo (xem bài phú đoán nêu trên sẽ rõ)
    Ví dụ 2 : Cha tuổi Mùi – Mẹ tuổi Dậu sinh con năm Mẹo tốt hay xấu?
    - Từ tuổi Mùi của cha tính là 1, Thân là 2, Dậu là 3, Tuất là 4, Hợi là 5, Tý là 6, Sửu là 7, Dần là 8, Mẹo là 9. Vậy tuổi con được số 9 ứng với chữ Đắc Lộc. (xem bài phú đoán nêu trên sẽ rõ)
    - Các trường hợp khác cứ thế mà suy.
    * Phương pháp này bất luận người con là trai hay gái (đều tính chung một phương pháp như đã nêu)
    *Nếu như tuổi con trùng tuổi với cha thì chính là số 1 là con ẩn tuổi cha, là số Quyền Quý là tốt. Cho nên các cụ thường hay bảo "con ẩn tuổi cha là số Công hầu" là vậy .
    *Nếu như tuổi con trùng với tuổi mẹ thì cũng từ tuổi của cha tính xuôi tới tuổi của mẹ ,qua 1 vòng 12 cung ,rồi bỏ tuổi của cha ,tính đến tuổi của con .(xem ví dụ 3)
    Ví dụ 3 : Cha tuổi Dần – Mẹ và con đều là tuổi Ngọ thì người con ấy tốt hay xấu?
    - Từ tuổi Dần của cha tính là 1, đến Mẹo là 2, Thìn là 3, Tỵ là 4, Ngọ là 5, Mùi là 6, Thân là 7, Dậu là 8, Tuất là 9, hợi là 10, Tý là 11, Sửu là 12, Dần phạm tuổi cha không tính chuyển đến Mẹo tính trở lại là 1, Thìn là 2, Tỵ là 3, Ngọ là 4. Vậy người con này được số 4 ứng với chữ Khoái Lạc. (xem bài phú đoán trên sẽ rõ)
     
  8. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 8 : Thất cầm mạnh hoạnh- Khổng Minh chi thủ
    (Tục gọi là Phụ mẫu tầm thời tri tử trường đoản) –> (bài sưu tầm để bổ sung cho bài 6)

    Hãy đọc theo thứ tự:
    1.Trường thọ 2.Ly hương 3.Phú quý 4.Khổ thân 5.Hiển đạt 6.Đoản mạng

    Ý nghĩa
    1.Trường thọ:
    Trường thọ được chữ sống lâu,
    Gặp sao Lục Bại phải âu lo lường
    Trai thì có chí đảm đang ,
    Gái thì tiết hạnh gia đường nữ công.
    Lớn lên sáng dạ học thông,
    Nghề nghiệp ,quyền tước hội đồng chẳng sai.
    Siêng năng học hành mới hay ,
    Khỏi đi làm mướn vác cày lùa trâu.

    2.Ly hương
    Ly hương xa cách ông bà ,
    Anh em cha mẹ chẳng hòa ở an ,
    Số sinh lập nghiệp xa đàng ,
    Gần thì xung khắc lại càng khổ tâm .
    Nhà cửa dời đổi nhiều lần,
    Hậu vận mới khá an thân muộn màng.
    Lớn thì xảo trá ,khôn ngoan ,
    Biết nhiều nghề nghiệp ra đời thua ai

    3.Phú quý
    Phú quý là chữ giàu sang,
    Ở không đức hạnh khó toan làm giàu ,
    Nam tử chức trọng quyền cao ,
    Nữ nhân đài các đứng (vào ) hàng Chiêu quân.
    Cơm nước có người đem dâng,
    Có kẻ giặt ủi áo quần khỏi lo.
    Dầu con đình trưởng đưa đò,
    Sinh được giờ đó trời cho thanh nhàn

    4.Khổ thân
    Người sinh ở chốn dương trần,
    Trúng nhằm chữ “khổ” cực thân lo hoài ,
    Giàu có làm không hở tay ,
    Thức khuya dậy sớm lo nay việc nhà .
    Cũng như nguyên soái lo xa,
    Tập luyện binh mã lo mà chiến chinh.
    Kẻ nghèo vất vả linh đinh,
    Cơn ăm không đủ nói mình khô khan.

    5.Hiển đạt
    Hiển đạt nguyệt chói dòng sông ,
    Năm kinh ba truyện lầu thông đêm ngày ,
    Ráng học thi đậu thành tài ,
    Ai mà biếng học cuốc cày làm nông.
    Người dốt ăn nói cũng thông ,
    Sinh chữ hiển đạt khó trông ai bì.
    Dầu như con gái nữ nhi ,
    Sinh ra giờ đó học thi thành tài .

    6.Đoản mạng
    Sinh nhằm đoản mạng khó thay,
    Không chết cũng bệnh khóc ngày khóc đêm .
    Mười năm qua khỏi mới êm ,
    Sống mang bịnh tật thiệt tình chẳng sai.
    Mười đứa thì sống một,hai ,
    Gặp sao Lục bại nhằm ngày ắt hung.
    Sống đặng không bị điên khùng ,
    Mạng người lớn lắm thung dung sướng đời .

    Phương pháp: (Phi thứ tự vòng tròn từ Dần đến Sửu, thuận theo các cung như cách sắp xếp của một lá số Tử Vi). Từ tuổi cha đếm tới tuổi mẹ ,từ tuổi mẹ đếm đến tuổi con, hết tuổi chẳn đến tuổi lẻ, lần lượt từ năm -> tháng -> ngày -> giờ, sau đó áp vào theo thứ tự 6 chữ trên ắt sẽ biết tốt xấu.
    Và đây là cách sắp xếp vị trí các cung:
    Tị / Ngọ / Mùi / Thân
    Thìn/----------------/ Dậu
    Mão/---------------/ Tuất
    Dần / Sửu / Tý / Hợi
    (Dần là cung khởi)

    Ví dụ:
    -Cha 30 tuổi
    -Mẹ 29 tuổi
    -Sinh con vào giờ Dậu, ngày 6, tháng 2 năm Tuất (2018 - không kể thiên can) tốt hay xấu?
    Cách tính:
    +Từ cung Dần bắt đầu đếm tuổi của cha là 10 –cung Mão là 20 –cung Thìn là 30
    +Từ cung Thìn bắt đầu đếm tuổi mẹ là 10 –cung Tỵ 20 –cung Ngọ 21 –cung Mùi là 22 –cung Thân là 23 –cung Dậu là 24 –cung Tuất là 25-cung Hợi là 26 –cung Tý là 27 –cung Sửu là 28 –cung Dần là 29
    +Từ cung Dần này tính là năm Tý (đếm đến tuổi của con) cung Mẹo là Sửu –cung Thìn là Dần –cung Tỵ là Mão –cung Ngọ là Thìn – cung Mùi là Tỵ - Cung Thân là Ngọ - Cung Dậu là Mùi – Cung Tuất là Thân – Cung Hợi là Dậu – Cung Tý là Tuất (tuổi của con). Từ cung Tý tính là tháng 1 – cung Sửu là tháng 2(tháng sinh của con). Từ cung Sửu kể là ngày mùng 1- cung Dần là mùng 2 – cung Mão là mùng 3 – cung Thìn là mùng 4 – cung Tỵ là mùng 5 – cung Ngọ là mùng 6 (ngày sinh của con). Lấy cung Ngọ tính là giờ Tý thuận đến cung Mão là giờ Dậu (giờ sinh của con). Sau đó ta tính tiếp:
    + Cung Mão là Trường thọ
    + Cung Thìn là Ly hương
    +Cung Tỵ là Phú quý
    + Cung Ngọ là Khổ thân
    + Cung Mùi là Hiển đạt
    + Cung Thân là Đoản mạng (rồi quay trở lại tính tiếp cho đến tuổi của con)
    + Cung Dậu là Trường thọ
    + Cung Tuất là Ly hương. (Tính đến đây là dừng vì đã gặp tuổi Tuất là tuổi của con)
    Vậy tuổi của con gặp Ly hương là xấu.
     
  9. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    hình.PNG Bài 9 : XEM TUỔI XÂY MỘ PHẦN CHO NGƯỜI QUÁ CỐ

    Theo tập quán của dân ta, tang táng là một sự kiện trọng đại thứ 3 sau hôn nhân, kiến tạo gia ốc. Đã có nhiều tác giả viết nhiều tác phẩm nói về chủ đề này, mỗi người mỗi ý khác nhau. Sự thật cũng rất khó thống nhất vì tập quán, quan điểm của người dân mỗi vùng miền, mỗi thời đại đều khác nhau… Thế nhưng có một nỗi băn khoăn chung cho những ai thực sự quan tâm đến vấn đề này, đó là khi hữu sự thì cần phải tránh tuổi nào, ai làm tang chủ, ai được tuổi đứng ra xây cất mồ mả, sửa chữa bia mộ, cải táng v.v.. cho người thân đã quá cố?
    Một phương pháp rất đơn giản giúp mọi người tìm ra được những tuổi ấy, đó là:
    - Lấy các tuổi trong một lục thập hoa giáp xếp thành một vòng tròn từ Giáp Tý đến Quý Hợi.
    - Lấy năm hiện hành kể là 1 rồi theo chiều kim đồng hồ tiếp tục cộng 9 rơi tại cung nào kể cung ấy là tuổi kiêng kỵ thứ nhất, tiếp tục cộng 9, sau 6 lần cộng ta được 6 tuổi phải kiêng kỵ trong năm đó. (Sau 6 lần cộng 9 tức là ta đã vượt qua 54 cung, còn lại 6 cung không đủ cho phép cộng 9 nữa cho nên chỉ được 6 tuổi kiêng kỵ trong một vòng hoa giáp mà thôi).
    Ví dụ: Năm Giáp Ngọ (2014) những tuổi nào phải kiêng kỵ? (nhớ tính từ tiết Lập Xuân đến hết tiết Đại Hàn mới đúng).
    Lấy cung Giáp Ngọ kể là cung thứ nhất,
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ nhất là Quý Mẹo. Tiếp tục
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ hai là Nhâm Tý. Tiếp tục
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ ba là Tân Dậu. Tiếp tục
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ tư là Canh Ngọ. Tiếp tục
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ năm là Kỷ Mẹo. Tiếp tục
    - Cộng thêm 9 cung ta được tuổi thứ sáu là Mậu Tý. Đủ 6 lần cộng, không tiếp tục được nữa.
    Vậy năm Giáp Ngọ có 6 tuổi phải kiêng kỵ là Quý Mẹo, Kỷ Mẹo, Nhâm Tý, Mậu Tý,Tân Dậu và Canh Ngọ.
    Các năm khác cứ thế mà suy.
    - Thử hỏi: Phương pháp này căn cứ vào đâu, đáng tin cậy hay không?
    - Trả lời : Phương pháp này dựa vào Thái Tuế áp, tin hay không là do mỗi người. Vì người xưa không giải thích rõ ràng khiến cho hậu nhân không biết đâu mà lần. Rất nhiều thầy hiểu sai nên đã áp dụng không đúng, gây tai hại cho thân chủ của mình mà không biết. Có thầy lấy tuổi của vong nhân để tính, có thầy lấy tuổi của con trai trưởng để tính, có thầy thì lấy tuổi của người nào trong thân tộc (của vong nhơn) không phạm Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai để đứng ra lo liệu … Rất là sai lầm. Bởi vì:
    - Nếu lấy tuổi vong nhân để tính thì người chết đội mồ lên để chỉ đạo thợ xây xây mộ cho họ à? Đấy là sai lầm thứ nhất!
    - Nếu lấy tuổi con trai tưởng để tính thì chẳng may tuổi con trai trưởng ấy còn quá nhỏ hoặc phạm vào những tuổi kiêng kỵ thì sao? Đấy là sai lầm thứ hai!
    - Nếu lấy tuồi của người nào trong thân tộc của vong nhơn không phạm Kim Lâu, Hoang Ốc,Tam tai để đứng ra lo liệu (như xem tuổi làm nhà) thì chẳng lẽ người nào đó đứng ra xây mộ cho chính mình hay sao, bởi vì tránh tuổi Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam tai là nhằm để làm nhà cho mình ở chứ đâu phải để làm mộ cho mình hoặc để xây mộ cho vong nhân. Đấy là sai lầm thứ ba!
    - Còn nhiều cách nữa nhưng nó mang tính vụn vặt, không đáng nêu ở đây.
    Nay tôi lý giải điều này như sau:
    Theo phương pháp trên, ta thấy phép cộng 9 đó là một chu kỳ của cửu tinh, các tuổi kiêng kỵ luôn luôn ở vị trí thứ 10, 19, 28, 37, 46, 55 so với năm hiện hành (ở vị trí thứ nhất). Rõ ràng các số vừa nêu đều có chung một số đại biểu của số Lạc Thư là 1, (giống như con số 1 trong phép tính tuổi Kim Lâu) nó ứng với Thái Tuế vậy! Cho nên phương pháp tôi nêu ở đây là nhất nhất phải dựa vào năm hiện hành để tính toán, tìm ra tuổi kiêng kỵ khi hữu sự tang táng, sửa chữa xây mồ mả, kim tỉnh… đẳng sự. Riêng việc mộ chôn hướng nào, tọa ở đâu, hốt cốt dời mả được hay không thì tôi không lạm bàn ở đây vì nó còn liên quan đến nhiều yếu tố khác nữa (Ví dụ như lý khí, loan đầu,tọa sát, hướng sát, mộ kết hay không kết…)

    Gửi thêm cái hình cho dễ nghiên cứu.
    [​IMG]
     
    Last edited by a moderator: Thg 4 23, 2016
    2 people like this.
  10. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 10 : TÌM TUỔI KIM LÂU. PHƯƠNG PHÁP NÀO KHẢ TÍN?

    Trước năm 1975, nhiều tác giả nổi tiếng như Thiên Lương, Huỳnh Liên, Viên Tài Hà Tấn Phát, Thái Kim Oanh v.v.. đã nghiên cứu nhiều bộ sách cổ, soạn, dịch thuật và cho ra đời nhiều tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay.
    Trong các tác phẩm ấy các tác giả, soạn giả có đưa ra phương pháp tìm tuổi phạm tứ kim lâu. Hiện nay cũng có nhiều thầy phong thủy dựa vào tài liệu cổ để đưa ra các phương pháp tìm kim lâu giống như các bậc tiền bối đã từng làm. Có rất nhiều phương pháp nhưng chỉ có ba phương pháp dân ta thường áp dụng tại Việt Nam và nước ngoài. Ba phương pháp đó là:

    1. Phương pháp I
    Lấy số tuổi ( tuổi âm lịch, tuổi mụ) đem chia cho 9, nếu có số dư là 1; 3; 6; 8 tức thị phạm kim lâu. Số dư 1 là phạm kim lâu Thân (hại cho người chủ sự), số dư 3 là phạm kim lâu Thê, Phu (hại cho người phối ngẫu vợ, chồng), số dư 6 là phạm kim lâu Tử (hại cho con cái), số dư 8 là phạm kim lâu Súc ( hại đến vật chăn nuôi trong nhà nhưng nhà nào không chăn nuôi thì không kiêng kỵ)

    2. Phương pháp II
    Người ta dùng theo khẩu quyết:
    “Kim lâu bàn khởi tại Khôn cung
    Thường phi ngũ nhập tại trung cung”
    Nghĩa là khởi 10 tại cung Khôn, 20 tại cung Đoài, 30 tại cung Càn, 40 tại cung Khảm, 50 tại cung giữa, 60 tại cung Cấn, 70 tại cung Chấn, 80 tại cung Tốn, 90 tại cung Ly. Những tuổi lẻ cứ tiếp tục từ cung Khởi tính thuận chiều kim đồng hồ, hễ đến những số mang chữ số 5 thì nhập vào cung giữa rồi phi ra cung kế tiếp tính cho đến tuổi muốn xem, sẽ biết phạm kim lâu hay không (xem minh họa ở hình 1). ( Toàn bộ bài viết này tôi dùng đồ hình lạc thư để minh họa).
    [​IMG]

    3. Phương pháp III

    Người ta áp dụng theo khẩu quyết:
    “ Kim lâu bàn khởi chánh Khôn cung
    Thường phi ngũ thập nhập trung cung
    Khảm Ly Chấn Đoài vị tứ kiết
    Ngộ Càn Khôn Cấn Tốn giai hung ”
    Theo phương pháp này người ta tính cũng giống như phương pháp II ở cung khởi điểm nhưng khác nhau ở chỗ là chỉ có số 50 nhập vào cung giữa còn những số mang số 5 hàng đơn vị thì không nhập vào cung giữa mà vẫn tính bình thường như các số lẻ khác. (xem minh họa hình 2 sẽ rõ).
    [​IMG]

    4. Nhận xét

    Giữa các phương pháp trên đã cho ra sự khác biệt rất nhiều làm cho người dụng sự không biết tin vào phương pháp nào là đúng. Giả sử nếu lấy phương pháp I (cách tính dân gian) làm chuẩn để so sánh với hai phương pháp còn lại thì ta thấy:
    a) Ở phương pháp II ( phi ngũ nhập cung trung): theo cách tính trên ta thấy có sự sai lệch thêm là:
    - Tại cung Khôn sau khi số 50 nhập vào giữa rồi tính tiếp tục các số rồi tính tiếp tục các số lẻ còn lại, cung này có số 56 là 56:9 dư 2 (còn các số khác có số dư là 1).
    - Tại cung Càn tương tự ta có các con số 58, 67, 76 tất cả đều có số dư là 4 khi đem chia cho 9 (các số khác có số dư là 3).
    - Tại cung Cấn có các số 14, 23, 32, 41 khi chia cho 9 tất cả có số dư là 5 (các số khác có số dư là 6).
    - Tại cung Tốn có các số 34, 43, hai số này chia cho 9 đều có số dư là 7. (các số khác có số dư là 8).
    Như vậy trong cùng một cung mà đã cho ra 2 kết quả khác biệt nhau.
    b ) Ở phương pháp III: Nhìn các số đã an sẵn ở hình 2 ta thấy nó không theo một quy luật nào cả, ta càng không thể tin tưởng hơn phương pháp II.

    Quý thầy phong thủy cũng đã biết rõ điều này nhưng vẫn chưa đưa ra một lời phân tích nào làm cơ sở vững chắc để người ta dựa vào đó mà thống nhất cách tính toán khi tìm tuổi phạm kim lâu. Nhiều khi việc này đã gây ra biết bao hệ lụy vừa đau lòng, vừa buồn cười cho bao người tin dùng.

    5. Lý giải
    Nay tôi mạo muội lý giải điều này theo quan điểm và kinh nghiệm của tôi như sau:

    a) Phải dựa vào dịch, lấy ý tứ của dịch và thuyết ngũ hành để lý giải mới chính xác.
    Hiện nay ai cũng có thể hiểu rằng tất cả các môn huyền bí như phong thủy, tử vi, tướng số, bói toán v.v.. đều xuất phát từ dịch mà ra. Khi nói tới dịch thì ta phải nhắc đến Hà Đồ và Lạc Thư. Hà Đồ là thể, Lạc Thư là dụng. Đại dụng của Lạc Thư chính là ở cửu tinh ( tử bạch) chính là con số từ 1 đến 9. ( Độc giả nghiên cứu Kinh Dịch sẽ rõ). Trong hình đồ Lạc Thư tên gọi các số đại biểu ứng với phương hướng, ngũ hành và kỳ môn, ta cần phải nắm tổng quất là:
    - Số 1: Nhất bạch thuộc Thủy ở cung Khảm là cửa Hưu.
    - Số 2: Nhị hắc thuộc Thổ ở cung Khôn là cửa Tử.
    - Số 3: Tam bích thuộc Mộc ở cung Chấn là cửa Thương.
    - Số 4: Tứ lục thuộc Mộc ở cung Tốn là cửa Đổ.
    - Số 5: Ngũ huỳnh thuộc Thổ ở trung ương (trung cung).
    - Số 6: Lục bạch thuộc kim ở cung Càn là cửa Khai.
    - Số 7: Thất xích thuộc kim ở cung Đoài là cửa Kinh.
    - Số 8: Bát bạch thuộc Thổ ở cung Cấn là cửa Sanh.
    - Số 9: Cửu tử thuộc Hỏa ở cung Ly là cửa Kiển.
    Đó là những đại biểu của cửu tinh Lạc Thư từ 1 đến 9 (tính ở hàng đơn vị), còn ở những số lớn hơn ở hàng 10, hàng trăm, hàng nghìn v.v.., ví dụ như số 14, 159, 1071, v.v.. thì đại biểu của nó sẽ là số nào? Nếu nói số 14 có đại biểu là 4, số 159 có số đại biểu là 9, số 1071 có số đại biểu là 1 tất thị là sai hoàn toàn, không đúng diệu dụng của dịch. Ta chỉ việc dùng số ấy chia cho 9 lấy số dư của nó hoặc lấy số mã của chữ số ấy cộng lại rồi trừ đi 9 ( nếu tổng của chữ số ấy lớn hơn 9) là biết ngay. Ví dụ thực tế:
    + Có người nuôi 6 con cá vàng là đại biểu của số lục bạch nhưng vì hồ quá rộng, họ muốn nuôi thêm cùng loại cá này thành 15 con thì số 15 vẫn có đại biểu là lục bạch.
    + Thắp 9 ngọn đèn điện ở trước cửa để kích hoạt sao cửu tử nhưng nếu muốn tăng cường thắp thêm 27 ngọn nữa tổng cộng là 36 ngọn, vậy thì số đại biểu của số 36= 3+6=9 vẫn là cửu tử.
    + Những số khác cứ thế mà suy.

    b ) Tổng hợp 3 phương pháp thường dùng rồi rút kinh nghiệm và dựa vào đại biểu số Lạc Thư tôi sắp xếp các con số từ 1 đến 99 (lấy số tuổi của con người có thể đạt tới) theo đồ hình minh họa bằng hình vẽ số 3 như sau:

    [​IMG]

    - Chú thích: con số ở góc trái hàng trên cùng là đại biểu của các số cùng nhóm.
    - Nhìn cách sắp xếp các số trong các cung theo thứ tự từng chu kì, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới ta sẽ tìm ra được số tuổi khi dụng sự có phạm tứ kim lâu hay không.
    - Nhận xét:
    + Qua bảng minh họa này ta thấy nó hoàn toàn phù hợp với phương pháp I (cách tính dân gian) là những tuổi (tuổi mụ) chia cho 9 có số sư là 1, 3, 6, 8 là phạm kim lâu Thân, Thê, Tử, Súc ( theo thứ tự nào đó).
    + Nó chỉ rõ cho ta thấy rằng phương pháp II và phương pháp III có sự sai lệch nhau là do ngộ nhận về con số 5. Con số 5 của Lạc Thư không phải là số 15, 25, 35, 45, 55, 65,75, 85, v.v.. nói chung không phải là những con số có hàng đơn vị là 5 (ngoại trừ những con số có tổng số mã của nó = 5).
    c) Bây giờ ta bàn đến yếu tố tại sao đại biểu số 1 đến cung Khôn, số 3 đến cung Càn, số 6 đến cung Cấn và số 8 đến cung Tốn là phạm Kim lâu cần phải tránh. Tại vì:
    - Số 1: Nhất bạch thuộc hành Thủy, sao này đến cung Khôn thuộc hành Thổ là bị khắc (Khôn khắc Khảm) nên xấu, kỵ.
    - Số 3: Tam bích thuộc hành Mộc, sao này đến cung Càn thuộc hành Kim là bị khắc (Càn khắc Chấn), xấu, kỵ.
    - Số 6: Lục bạch thuộc hành Kim, sao này đến cung Cấn thuộc hành Thổ là sinh nhập (Cấn sinh Càn) cần phải tránh. (Xem phép dụng binh ở Kỳ môn sẽ rõ).
    - Số 8: Bát bạch thuộc hành Thổ, sao này đến cung Tốn thuộc hành Mộc là bị khắc (Tốn khắc Cấn) nên xấu, kỵ.
    Như vậy số tuổi có đại biểu là số 1, 3, 6, 8 rơi vào các cung Khôn, Càn, Cấn, Tốn cả thảy đều bị các cung ấy khắc chế hoặc sinh ra nên cần phải tránh xa (Độc giả tham cứu phép dụng binh ở Kỳ môn sẽ rõ thêm).
    Thế thì các số đại biểu 2, 4, 7, 9 ở các cung Đoài, Khảm, Chấn, Ly tại sao lại tốt dùng? (cung giữa sẽ nói riêng)
    - Số 2: Nhị hắc thuộc hành Thổ, sao này đến cung Đoài thuộc hành Kim là sinh xuất. Theo phép dụng binh, hàm ý là ta mạnh hơn địch nên dùng được. Hơn nữa theo Cửu tinh Lạc Thư thì Nhị hắc đến cung Đoài kết hợp thành bộ 2+7 thành Hỏa sinh thêm cho Thổ (nhị hắc có lợi) nên dùng.
    - Số 4: Tứ lục thuộc hành Mộc, sao này đến cung Khảm thuộc hành Thủy là sinh nhập. Nhưng theo Cửu tinh Lạc Thư thì tứ lục đến cung Khảm hợp thành bộ nhất tứ đồng cung, bất luận thế nào nó vẫn là bộ sao tốt. Nên dùng.
    - Số 7: Thất xích thuộc hành Kim, sao này đến cung Chấn thuộc hành Mộc là khắc xuất (ta mạnh hơn địch, ta khắc được địch). Theo Cửu tinh Lạc Thư sao Thất xích đến cung Chấn hợp thành phu phụ, hợp thập (7+3=10), khí quẻ thông nhau nên tốt, dùng.
    - Số 9:Cửu từ thuộc hành Hỏa, sao này đến tại cung Ly thuộc hành Hỏa là đất của nó là Vượng địa, ngang hòa nên tốt, dùng.
    - Riêng về con số 5: Ngũ huỳnh thuộc hành Thổ, sao này nhập vào giữa là đất của nó, toàn bàn là phục ngâm. Vì ngũ hoàng là hung sát, nên tịnh không nên động cho nên những người có số tuổi đại biểu là số 5 thì phải tránh, mặc dù không phải phạm Kim lâu nhưng cũng không nên tiến hành xây dựng nhà cửa.
    d) Tại sao người xưa chọn bốn từ Kim lâu: Thân, Thê, Tử, Súc?
    Theo quan niệm xưa việc xây nhà cửa là một việc lớn lao, không phải ngày một ngày hai mà thực hiện được, cần phải có thời gian tích lũy, đầu tư công sức cũng như tiền bạc mới dám xây cất. Vì vậy một khi xây cất được một ngôi nhà thì người ta quý nó như vàng, là kim lâu (tức là nhà vàng). Thế nhưng tuổi dụng sự (tuổi đứng cất nhà) phạm Kim lâu, khi về ở chẳng may xảy ra sự cố tổn hại cho chính bản thân người chủ tạo, cho vợ, cho con, hoặc cho việc chăn nuôi… gây tổn thất cho gia đình ấy thì người ta xem nó không phải là “nhà vàng” nữa. Vậy muốn nó có tác dụng đến gia đình như “nhà vàng”, khi làm nhà xong về ở không có sự cố gì xảy ra, công việc làm ăn thuận lợi, sự nghiệp của mỗi người trong gia đình mỗi ngày mỗi tiến bộ,… thì phải tránh xung kị đến Thân, Thê, Tử, Súc. Bốn yếu tố này là bốn yếu tố quan trọng bậc nhất để bảo toàn sự tốt đẹp cho hạnh phúc một gia đình. Qua phần này tôi cũng đề nghị rằng, dù tin hay không là do suy luận của từng người, nhưng đừng tỏ ra nhạo báng về ý từ “kim lâu” mà người xưa đã đặt tên như vậy, ngược lại chúng ta nên tìm hiểu đến cội nguồn để hiểu được thâm ý của người xưa.
    Bàn thêm về Kim lâu Súc: trước kia xã hội Việt Nam chúng ta lấy nông nghiệp làm hàng đầu, việc chăn nuôi rất hệ trọng trong vấn đề thu nhập kinh tế của gia đình. Nếu chăn nuôi bị thất bại thì chắc chắn kinh tế của gia đình ấy bị suy sụp theo. Vì lẽ đó mà ngừi xưa phải tránh năm ảnh hưởng đến chăn nuôi. Đối với thời đại ngày nay, kinh tế gia đình không còn bó buộc trong lĩnh vực nông nghiệp- chăn nuôi nữa. Thiển nghĩ, chúng ta cần suy rộng ra rằng hễ tuổi nào phạm Kim lâu Súc, tức là phạm đến kinh tế gia đình thì nên tránh sẽ tốt hơn.
    e) Tại sao người xưa khởi số 1 tại cung Khôn?
    Có một số người dựa vào sách Liên Sơn và Quy Tàng để giải thích vạn vật sinh ra từ Cấn, thịnh ở Cấn và mất cũng trở về Cấn cho nên họ lấy số 10 khởi ở Cấn, 20 ở Chấn, 30 tại Tốn, 40 tại Ly, 50 tại Khôn,… rồi cứ thế tiếp tục tính theo phương pháp của họ. Thế nhưng Thẩm Trúc Nhưng giải thích rằng: “Liên Sơn, Quy Tàng và chu dịch là một loại dịch. Liên Sơn lấy Cấn làm đầu, Quy Tàng lấy Khôn làm đầu, suy ngẫm cho tường tận thì chẳng qua cũng là nhị bát thay đổi vị trí rồi phát sinh ra một loại biến hóa mà thôi”. Vì vậy không thể chấp nhận khởi đầu (số 10) tại cung Cấn như đã nói trên.
    Vì số 1 là số đầu tiên của chín số Lạc Thư. Số 1 là Nhất bạch thuộc hành Thủy, mà Thủy thì khởi Tràng Sinh (ngụ ý là sinh ra) tại Thân, mà Thân thuộc cung Khôn nên số 1 khởi sinh tại Khôn (nói số 1 tức là bao gồm các số có đại biểu là số 1 như ở hình 3 đã liệt kê). Nói rộng ra rằng Khôn là đất, là nơi che chở, chất chứa vạn vật chứ không phải là Cấn, vì Cấn là con của Khôn, tức là lấy một hào dương của Kiền đem thay vào hào đầu của quẻ Khôn thì được quẻ Cấn. Như vậy ta xác nhận chắc chắn rằng Khôn là nơi sinh ra vạn vật cho nên người xưa đã lấy cung này để khởi số 1.
    6. Kết luận

    Qua phân tích, lí giải như trên, tôi đồng tình với cách tính của dân gian là lấy số tuổi mụ (tuổi âm lịch) của người dụng sự đem chia cho 9 có các số dư là 1, 3, 6, 8 thì phạm tứ Kim lâu, không nên tiến hành xây cất nhà cửa. Số 1 phạm Kim lâu Thân (hại bản thân người dụng sự), số 3 phạm Kim lâu Thê (Phu) (hại người phối ngẫu), số 6 phạm Lim lâu Tử (hại cho con cái) và số 8 phạm Kim lâu Súc (hại đến lục súc). Tuổi có số đại biểu là số 5 cũng phải tránh.

    Thế mới biết tri thức trong dân gian không phải là chuyện tầm thường. Chúng ta nên khâm phục và trân trọng!
     

    Các file đính kèm:

    Vonga and Vũ Kỵ like this.
  11. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Re: NGHIÊN CỨU "ĐỒ CỔ" CHO VUI.

    Bài 11 : Tại sao tám tuổi Canh Dần, Canh Thân, Nhâm Dần, Nhâm Thân, Tân Sửu, Tân Mùi, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi thì không sợ tứ Kim Lâu khi chọn tuổi xây cất nhà.

    Theo phương pháp tìm tuổi Kim Lâu thì tuổi người nào đó phạm 4 cung Càn Khôn Cấn Tốn là phải tránh. Các cung còn lại thì không phạm Kim Lâu (như tôi đã phân tích ở bài trước). Thế nhưng đối với 8 tuổi đã nêu tôi thấy người xưa nhầm lẫn hai tuổi Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, bởi vì trong quá trình tìm hiểu tôi thấy hai tuổi này có lúc thỏa mãn, có khi không thỏa mãn điều kiện ở phương pháp tìm tuổi Kim Lâu, nghĩa là có lúc chúng nằm trong 4 cung Khảm Chấn Ly Đoài nhưng có khi chúng lại rơi vào 4 cung Càn Khôn Cấn Tốn. Nay tôi mạnh dạn chỉnh sửa lại 8 tuổi không sợ tứ Kim Lâu khi chọn tuổi xây cất nhà cửa, đó là Canh Dần, Canh Thân, Nhâm Dần, Nhâm Thân, Tân Sửu, Tân Mùi, Quý Sửu, Quý Mùi. Tôi xin công bố kết quả tìm hiểu của tôi để quý bạn độc giả chứng nghiệm tám tuổi vừa nêu có những biệt lệ “đáng phấn khởi” hơn các tuổi khác trong cách phối hợp Can, Chi, Bát quái, nó không hề phạm đến 4 cung Càn Khôn Cấn Tốn ở Lạc Thư (Hậu thiên Bát Quái). Cụ thể:

    1. Trường hợp I: Nếu dựa vào bài Thiên Can phối hợp với phương hướng:
    Đông phương Giáp Ất Mộc thuộc Chấn
    Tây phương Canh Tân Kim thuộc Đoài
    Nam phương Bính Đinh Hỏa thuộc Ly
    Bắc phương Nhâm Quý Thủy thuộc Khảm
    Trung cung Mậu Kỷ Thổ ở giữa
    thì Thiên Can của tám tuổi này thuộc các cung:
    – Tuổi Canh, Tân (Canh Dần , Canh Thân, Tân Sửu, Tân Mùi) đều thộc Đoài mà cung Đoài thì không phạm Kim Lâu.
    – Tuổi Nhâm, Quý (Nhâm Dần, Nhâm Thân, Quý Sửu, Quý Mùi) đều thuộc Khảm, mà Khảm thì không phạm Kim Lâu.
    (Trong khi đó tuổi Kỷ (Kỷ Sửu, Kỷ Mùi) không thỏa mãn điều kiện (vì nó không nằm trong 4 cung Ly Khảm Chấn Đoài)).

    2. Trường hợp II: Nếu dựa vào bài Địa chi Ngũ hành sở thuộc thì Hợi + Tý thuộc Thủy, Dần Mẹo thuộc Mộc, Tỵ Ngọ thuộc Hỏa, Thân Dậu thuộc Kim, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ, vậy thì:
    – Tuổi Dần thuộc quẻ Chấn mà Chấn thì không phạm Kim Lâu.
    – Tuổi Thân thuộc quẻ Đoài mà Đoài không phạm Kim Lâu.
    – Tuổi Sửu + Mùi thuộc cung giữa đồng thời Sửu tàng chứa trong Quý mà Quý thuộc quẻ Khảm; Mùi tàng chứa trong Đinh mà Đinh thuộc Quẻ Ly cho nên tất cả đều không phạm Kim Lâu.

    3. Trường hợp III: Phối với số của Lạc Thư:
    Theo cách sắp xếp của Thiên Can ta có: 1 Giáp, 2 Ất, 3 Bính, 4 Đinh, 5 Mậu, 6 Kỷ, 7 Canh, 8 Tân, 9 Nhâm, 10 Quý. Theo cách sắp xếp của vòng Địa Chi ta có: 1 Tý, 2 Sửu, 3 Dần, 4 Mẹo, 5 Thìn, 6 Tỵ, 7 Ngọ, 8 Mùi, 9 Thân, 10 Dậu, 11 Tuất, 12 Hợi. Như vậy các số đã nêu có số đại biểu là:
    – Canh Dần = 7 + 3 = 10 có đại biểu số 1 thuộc Khảm
    – Canh Thân = 7 + 9 = 16 có đại biểu số 7 thuộc Đoài
    – Nhâm Dần = 9 + 3 = 12 có đại biểu số 3 thuộc Chấn
    – Nhâm Thân = 9 + 9 = 18 có đại biểu số 9 thuộc Ly
    – Tân Sửu = 8 + 2 = 10 có đại biểu số 1 thuộc Khảm
    – Tân Mùi = 8 + 8 = 16 có đại biểu số 7 thuộc Đoài
    – Quý Sửu = 10 + 2 = 12 có đại biểu số 3 thuộc Chấn
    – Quý Mùi = 10 + 8 = 18 có đại biểu số 9 thuộc Ly
    Như vậy các tuổi này đều không phạm Kim Lâu.
    (Trong khi đó các tuổi Kỷ Sửu = 6+2= 8 thuộc Cấn và tuổi Kỷ Mùi = 6+8= 14 thuộc cung giữa nên không thỏa mãn điều kiện).
    Nếu sự lý giải này đến đây chúng ta cho nó là đầy đủ thì chưa thể chấp nhận, bởi vì theo lý luận trên quý bạn có thể tìm thêm nhiều tuổi nữa cũng không phạm vào 4 cung cấm kỵ là Càn Khôn Cấn Tốn, nghĩa là sẽ có nhiều tuổi không kỵ tứ Kim Lâu (Quý bạn tự kiểm chứng sẽ rõ). Vậy, tôi tiếp tục dẫn chứng thêm:

    4. Trường hợp IV: Phối với trùng quái (64 quẻ của Tiên Thiên)
    Từ trước đến giờ, bất cứ ai đã nghiên cứu về Dịch thì đều thấy các học giả quy tập Thiên Can, Địa Chi, Ngũ Hành, Bát Quái, Trùng Quái v.v. vào một vòng tròn để xác định phương vị, ý nghĩa, quái khí v.v. của nó, nhưng đối với vòng Lục Thập Hoa Giáp thì không thấy nhắc đến. Nay tôi cũng mạnh dạn đưa nó vào ở vị trí hợp lý để biện bạch.
    Vì một vòng tròn có số đo là 360o, vòng Lục Thập Hoa Giáp có 60 tuổi, như vậy mỗi tuổi ứng với một cung = 360: 60 = 6o. Một câu hỏi được đặt ra là mỗi tuổi sắp xếp nó nằm ở vị trí nào trên vòng tròn, tuổi nào là tuổi khởi đầu, ở tại đâu? Tôi dựa vào một số đoạn viết trong các sách “Sử ký, Luật thư”, “Hán thư, Luật Lịch Chi” ,“Thuyết Văn Giải Tự”, thuyết của Hồ Ngọc Trai giải thích về Dịch để xác định vị trí của nó, để quý bạn cùng suy nghiệm:
    Theo thuyết Thiên Can tôi lấy một chữ Mậu, theo thuyết Địa Chi tôi lấy một chữ Tý để ghép thành Mậu Tý làm tuổi khởi đầu, nằm ở vị trí từ –3o đến +3o rồi theo chiều thuận tính tiếp tục đến hết một vòng “lục thập hoa giáp”, mỗi tuổi 6o. Tại sao vậy? Tại vì:
    – Thiên Can Mậu thuộc Thổ. Về ngũ nguyên của ngũ hành thì Mậu là nguyên khí.
    – Địa Chi Tý là nói vạn vật sinh sôi, sinh sôi tại Tý, Tý là tháng 11 âm lịch, dương khí động vạn vật sinh.
    – Theo phương vị của trùng quái thì quẻ ứng với tháng 11 ÂL là quẻ Phục, tức là tiết Đông Chí. Dương khí bắt đầu hồi phục lại mà dương khí ấy chính là nguyên khí Mậu.
    (Các bạn xem trong La Kinh chuyên dùng, bất kể ở phái phong thủy nào thì tại chính Tý (0o) đều ứng với chữ Mậu Tý, ứng với quẻ Phục thuộc tiết Đông Chí, ứng với sao Hư ở phương vị này).
    Theo lý lẽ trên tôi sắp xếp thứ tự của 60 tuổi từ Mậu Tý – Đinh Hợi ứng với số độ trên vòng tròn như sau:

    1. Mậu Tý (–30 đến 30) 2. Kỷ Sửu(30 – 90) 3. Canh Dần (90–150) 4. Tân Mẹo (150 – 210) 5. Nhâm Thìn (210 – 270) 6. Quý Tỵ (270 – 330) 7. Giáp Ngọ (330 – 390) 8. Ất Mùi (390 – 450)9. Bính Thân (450– 510)10. Đinh Dậu (510 – 570)11. Mậu Tuất(570 – 630) 12. Kỷ Hợi (630 – 690) 13. Canh Tý (690 –750) 14. Tân Sửu(750 – 810)15. Nhâm Dần (810 – 870)16. Quý Mẹo (870 – 930)17. Giáp Thìn(930 – 990) 18. Ất Tỵ (990 – 1050) 19. Bính Ngọ(1050 – 1110) 20. Đinh Mùi (1110 – 1170) 21. Mậu Thân(1170 – 1230) 22. Kỷ Dậu(1230 – 1290)23. Canh Tuất (1290 – 1350) 24. Tân Hợi (1350 – 1410) 25. Nhâm Tý (1410 – 1470) 26. Quý Sửu (1470 – 1530) 27. Giáp Dần(1530 – 1590) 28. Ất Mẹo(1590 – 1650) 29. Bính Thìn (1650 – 1710) 30. Đinh Tỵ(1710 – 1770) 31. Mậu Ngọ (1770 đến 1830) 32. Kỷ Mùi(1830 – 1890) 33. Canh Thân(1890 – 1950) 34. Tân Dậu (1950 – 2010) 35. Nhâm Tuất (2010 – 2070) 36. Quý Hợi (2070 – 2130) 37. Giáp Tý(2130 – 2190) 38. Ất Sửu (2190 – 2250) 39. Bính Dần (2250 – 2310) 40. Đinh Mẹo (2310 – 2370) 41. Mậu Thìn (2370 – 2430) 42. Kỷ Tỵ (2430 – 2490) 43. Canh Ngọ (2490 – 2550) 44. Tân Mùi (2550 – 2610) 45. Nhâm Thân (2610 – 2670) 46. Quý Dậu (2670 – 2730) 47. Giáp Tuất (2730 – 2790) 48. Ất Hợi (2790 – 2850) 49. Bính Tý (2850 – 2910) 50. Đinh Sửu (2910 – 2970) 51. Mậu Dần (2970 – 3030) 52. Kỷ Mẹo (3030 – 3090) 53. Canh Thìn (3090 – 3150) 54. Tân Tỵ (3150 – 3210) 55. Nhâm Ngọ (3210 – 3270) 56. Quý Mùi (3270 – 3330) 57. Giáp Thân (3330 – 3390) 58. Ất Dậu (3390 – 3450) 59. Bính Tuất (3450 – 3510) 60. Đinh Hợi (3510 – 3570 tức là -30)

    Theo cách sắp xếp này thì vị trí của các tuổi đã nêu nằm ở các cung độ như sau:
    - Canh Dần ở cung 90-150, thuộc sơn Quý, thuộc quẻ Khảm
    - Tân Sửu ở cung 750- 810 thuộc sơn Giáp, thuộc quẻ Chấn
    - Nhâm Dần ở cung 810- 870 thuộc sơn Mẹo, thuộc quẻ Chấn
    - Quý Sửu ở cung 1470- 1530 thuộc sơn Tỵ, thuộc quẻ Tốn
    - Canh Thân ở cung 1890- 1950 thuộc sơn Đinh, thuộc quẻ Ly
    - Tân Mùi ở cung 2550- 2610 thuộc sơn Canh, thuộc quẻ Đoài
    - Nhâm Thân ở cung 2610- 2670 thuộc sơn Dậu, thuộc quẻ Đoài
    - Quý Mão ở cung 3270- 3330 thuộc sơn Hợi, thuộc quẻ Càn.

    Ta thấy 6 tuổi Canh Dần, Tân Sửu, Nhâm Dần, Canh Thân, Tân Mùi, Nhâm Thân đều ở 4 vị trí Khảm, Chấn, Ly, Đoài là không phạm Kim lâu. Riêng tuổi Quý Sửu ở sơn Tỵ thuộc Tốn nhưng nếu xét về Ngũ hành thì Tỵ thuộc Hỏa nên khí của nó đã nạp qua quẻ Ly nên cũng tạm ổn. Tương tự tuổi Quý Mùi ở sơn Hợi thuộc Càn nhưng nếu xét về Ngũ hành thì Hợi thuộc Thủy nên khí của nó đã nạp qua quẻ Khảm nên vẫn ứng hợp (tức là không phạm Kim Lâu). (Trường hợp này thì tuổi Kỷ Sửu ở cung 30- 90 thuộc sơn Tý, thuộc quẻ Khảm và tuổi Kỷ Mùi ở cung 1830- 1890 ứng với sơn Ngọ, thuộc Quẻ Ly nên cũng thỏa mãn điều kiện).
    Một trường hợp nữa nếu ta lấy vị trí của 60 tuổi đã sắp xếp theo vị trí trên đem so sánh tương ứng với vị trí sắp xếp của 64 quẻ trong Kinh Dịch thì cũng thấy có một sự tương ứng kì lạ. Để quý bạn độc giả dễ so sánh, tôi liệt kê độ số của mỗi quẻ như sau: (Vì vòng tròn = 3600, có 64 quẻ, mỗi quẻ ứng với 3600 =5,6250 – lấy số thập phân cho dễ nhìn)

    1. Phục (-2,8125 đến +2,81250 ) 2. Di –> 8,4375 3. Truân –> 14,0625 4. Ích –> 19,6875 5. Chấn –> 25,3125 6. Phệ hạp –> 30,9375 7. Tùy –> 36,5625 8. Vô vọng –> 42,1875 9. Minh Di –> 47,8125 10. Bí –> 53,4375 11. Ký Tế –> 59,0625 12. Gia nhân –> 64,6875 13. Phong –> 70,3125 14. Ly –> 75,9375 15. Cách –> 81,5625 16. Đồng Nhân –> 87,1875 17. Lâm –> 92,8125 18. Tổn –> 98,4375 19. Tiết –> 104,0625 20. Trung Phu –> 109,6875 21. Quy Muội –> 115,3125 22. Khuê –> 120,9375 23. Đoài –> 126,5625 24. Lý –> 132,1875 25. Thái –> 137,8125 26. Đại Súc –> 143,4375 27. Nhu –> 149,0625 28. Tiểu Súc –> 154,6875 29. Đại Tráng –> 160,3125 30. Đại Hữu –> 165,9375 31. Quải –> 171,5625 32. Càn –> 177,1875 33. Cấu –> 182,8125 34. Đại Quá –> 188,4375 35. Đỉnh –> 194,0625 36. Hằng –> 199,6875 37. Tốn –> 205,3125 38. Tỉnh–> 210,9375 39. Cổ –> 216,5625 40. Thăng –> 222,1875 41. Tụng –> 227,8125 42. Khốn –> 233,4375 43. Vị tế –> 239,0625 44. Giải –> 244,6875 45. Hoán –> 250,3125 46. Khảm –> 255,9375 47. Mông –> 261,5625 48. Sư –> 267,1875 49. Độn –> 272,8125 50. Hàm –> 278,4375 51. Lữ –> 284,0625 52. Tiểu Quá –> 289,6875
    53. Tiệm –> 295,3125 54. Kiểu–> 300,9375 55. Cấn –> 306,5625 56. Khiêm –> 312,1875 57. Bĩ –> 317,8125 58. Tụy –> 323,4375 59. Tấn –> 329,0625 60. Dự –> 334,6875 61. Quán –> 340,3125 62. Tỷ –> 345,9375 63. Bác –> 351,5625 64. Khôn –> 357,1875

    Ta thấy:
    - Tuổi Canh Dần ứng với quẻ Truân mà quẻ Truân thuộc quẻ Khảm tiên thiên biến 2 hào dưới mà thành. Quẻ Khảm tiên thiên chính là quẻ Đoài hậu thiên (xem cách lý giải của Chu Hy nói về Văn Vương thay đổi hình vẽ các quẻ của Phục Hy sẽ rõ)
    - Tuổi Tân Sửu ứng với các quẻ Cách mà quẻ Cách thuộc quẻ Khảm tiên thiên biến 4 hào dưới mà thành. Quẻ Khảm tiên thiên chính là quẻ Đoài hậu thiên.
    - Tuổi Nhâm Dần ứng với quẻ Đồng Nhân, là quẻ của Quy Hồn của quẻ Ly tiên thiên , mà quẻ Ly tiên thiên tức là vị trí của quẻ Chấn hậu thiên.
    - Tuổi Quý Sửu ứng với quẻ Nhu mà quả Nhu là quẻ Du Hồn của Khôn tiên thiên, quẻ Khôn tiên thiên tức là vị trí của quẻ Khảm hậu thiên.
    - Tuổi Canh Thân ứng với quẻ Đỉnh mà quẻ Đỉnh thuộc quẻ Ly biến 2 hào dưới mà thành. Quẻ Ly tiên thiên tức là vị trí của quẻ Chấn hậu thiên.
    - Tuổi Tân Mùi ứng với quẻ Mông mà quẻ Mông thuộc quẻ ly biến 4 hào dưới mà thành. Quẻ Ly tiên thiên tức là vị trí của quẻ Chấn hậu thiên.
    - Tuổi Nhâm Thân ứng với quẻ Sư, mà quẻ Sư là quẻ Quy Hồn của quẻ Khảm tiên thiên. Nó ứng hợp với quẻ Đoài hậu thiên.
    - Tuổi Quý Mùi thuộc quẻ Tấn mà quẻ Tấn thuộc quẻ Du Hồn của quẻ Càn tiên thiên. Quẻ Càn tiên thiên chính là vị trí của quẻ Ly hậu thiên.
    Như vậy 8 tuổi nói trên đều nằm ở vị trí của 4 quẻ Khảm Đoài Ly Chấn, những vị trí đã tránh được Kim Lâu (nếu ta lấy tuổi Kỷ Sửu, Kỷ Mùi để so sánh với trùng quái thì không ứng hợp, quý bạn tự chứng minh sẽ rõ).

    5. Kết luận:
    Qua sự lý giải ở 4 trường hợp, chúng ta đủ tin tưởng rằng 8 tuổi Canh Dần, Canh Thân, Nhâm Dần, Nhâm Thân, Tân Sửu, Tân Mùi, Quý Sửu, Quý Mùi không cần phải tránh năm Kim Lâu khi chọn tuổi xây cất nhà bởi vì chính 8 tuổi này đã nằm ở vị trí rất đặc biệt như đã phân tích. Nếu quý bạn nào còn hoài nghi giữa tuổi Quý Sửu, Quý Mùi với Kỷ Sửu, Kỷ Mùi thì tùy quyết định của bạn. Nếu quý bạn nào tìm được những lý giải mang tính thuyết phục hơn thì nên đưa bài viết của mình lên diễn đàn để mọi hội viên tham khảo. Kiến thức là vô biên! “Học thầy không tày học bạn” mà!
     
    Vonga thích bài này.
  12. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 12: PHƯƠNG PHÁP TÌM TUỔI HOANG ỐC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH?

    Vì công việc làm nhà cửa là một việc hệ trọng của đời người có tác động rộng lớn đến cuộc sống và hạnh phúc gia đạo nên ngoài việc tránh tứ Kim Lâu, người ta còn tránh tuổi phạm Hoang Ốc nữa. Phương pháp tính tuổi Hoang Ốc hiện nay các thầy, các sách đều thống nhất, không có một ý kiến nào trái ngược nhau.Tôi cũng không có ý kiến gì khác hơn nhưng muốn trình bày thêm cách tính này, đáng để chúng ta tin tưởng không?

    1. CÁCH TÍNH
    (Theo thứ tự liên tiếp, bất luận là nam hay nữ)
    - Nhất kiết, nhị nghi, tam địa sát, tứ tấn tài, ngũ thọ tử, lục hoang ốc.
    - Khởi đếm 10 tuổi tại nhất kiết, 20 tuổi tại nhị nghi, 30 tuổi tại tam địa sát, 40 tuổi tại tứ tấn tài, 50 tuổi tại ngũ thọ tử, 60 tuổi tại lục hoang ốc, đếm hết tuổi chẵn đến tuổi lẻ liên tiết theo thuận chiều kim đồng hồ rơi tại cung nào biết cung ấy tốt hay xấu. Bài thơ thường dùng để minh họa cho cách tính này là:
    Nhất kiết an cư thông vạn sự (tốt, dùng)
    Nhì nghi tấn thất địa sinh tài (tốt, dùng)
    Tam sát nhơn do giai đắc bệnh (xấu, kỵ)
    Tứ tấn tài chi phước lộc lai (tốt, dùng)
    Ngũ tử ly thân phòng tử biệt (xấu, kỵ)
    Lục ốc tạo gia bất khả thành (xấu , kỵ)
    Ví dụ, người có số tuồi là 43 phạm Hoang Ốc hay không? Ta tính 40 tuổi khởi tại tứ tấn tài, 41 tuổi tại ngũ thọ tử, 42 tuổi tại lục hoang ốc, 43 tuổi tại nhất kiết là tốt, dùng. Các tuổi khác cứ thế mà suy.

    2. NHẬN XÉT
    Cách tính trên nếu ta sắp xếp từ dưới lên trên thì nó giống sáu hào của một trùng quái trong kinh dịch, nếu ta tính sẵn số tuổi người dụng sự để sắp xếp vào vị trí đúng như phương pháp đã nêu thì ta thấy:
    - Tại hào 1 và hào 4 của trùng quái sẽ xuất hiện các số đại biểu của Lạc thư là 1, 4, 7 (nhóm cung Khảm).
    - Tại hào 2 và hào 5 của trùng quái sẽ xuất hiện các số đại biểu của Lạc thư là 2, 5, 8 (nhóm cung Cấn).
    - Tại hào 3 và hào 6 của trùng quái sẽ xuất hiện các số đại biểu của Lạc thư là 3, 6, 9 (nhóm cung Ly). (Xem hình 4)

    Hào 6 : Lục hoang ốc : 15 24 33 39 42 48 51 57 60 66 75 84 93 99 - Đại biểu là số 3, 6, 9

    Hào 5 : Ngũ thọ tử 14 23 29 32 38 41 47 50 56 65 74 83 89 92 98 - Đại biểu là số 2, 5, 8

    Hào 4 : Tứ tấn tài 13 19 22 28 31 37 40 46 55 64 73 79 82 88 91 97 - Đại biểu là số 1, 4, 7

    Hào 3 : Tam địa sát 12 18 21 27 30 36 45 54 63 69 72 78 81 87 90 96 - Đại biểu là số 3, 6, 9

    Hào 2 : Nhị nghi 11 17 20 26 35 44 53 59 62 68 71 77 80 86 95 - Đại biểu là số 2, 5, 8

    Hào 1 : Nhất kiết 10 16 25 34 43 49 52 58 61 67 70 76 85 94 - Đại biểu là số 1, 4, 7

    Hình 4

    Sự sắp xếp như trên có ý nghĩa gì với đạo lý của dịch? Đáng tin tưởng hay không? Theo tôi nghĩ là có đạo lý và đáng tin tưởng, vì ngày xưa người ta mượn âm từ “trạch” của quẻ Đoài để chế ra phương pháp này. Đoài vi trạch, trạch là chằm, là cái đầm, chỗ nước đọng lớn. Cùng âm từ trạch còn có nghĩa khác là phòng ốc (dương trạch), mồ mả (âm trạch), mà các thầy phong thủy thường dùng âm từ này. Không cần phân tích rườm rà, theo đại khái tốt xấu của 6 hào quẻ Đoài, ta thấy nó rất tương ứng với cách sắp xếp theo phương pháp tìm tuổi Hoang Ốc.
    Hào 6 tương ứng với lục hoang ốc (xấu)
    Hào5 tương ứng với ngũ thọ tử (xấu)
    Hào 4 tương ứng với tứ tấn tài (tốt)
    Hào 3 tương ứng với tam địa sát (xấu)
    Hào 2 tương ứng với nhị nghi (tốt)
    Hào 1 tương ứng với nhất kiết (tốt)
    (Độc giả có thể suy nghiệm từng hào từ quẻ thuần Đoài sẽ thấy có sự tương ứng)
    Ngoài ra nếu ta dùng ngũ hành của nhóm đại biểu số Lạc thư đã nêu đem so sánh với ngũ hành của từng hào của quẻ Đoài để biện bạch thì cũng thấy tương ứng. Cụ thể, theo quẻ thuần Đoài thì sự sắp xếp các hào tính từ dưới lên trên như sau: hào 1 Tỵ Hỏa, hào 2 Mão Mộc, hào 3 Sửu Thổ, hào 4 Hợi Thủy, hào 5 Dậu Kim, hào 6 Mùi Thổ. Theo hình 4 ta thấy:
    - Tại hào 1 nhóm cung Khảm (1, 4, 7) tụ tập. Khảm Thủy khắc được Tỵ Hỏa nên tốt, dùng.
    - Tại hào 2 nhóm cung Cấn (2, 5, 8) tụ tập bị Mão Mộc khắc nhưng vì Mão là âm Mộc, là cây nhỏ, là các loài thảo mộc nên không thể khắc nổi Cấn Thổ là dương Thổ, là đất đá núi cho nên không bị ảnh hưởng gì, vẫn NGHI dụng (Nghi nghĩa là hợp, là nên, ngụ ý là dùng được)
    - Tại hào 3 nhóm cung Ly (3, 6, 9) tụ tập, Ly Hỏa sinh cho Sửu Thổ là bị tiết khí nên xấu, kỵ.
    - Tại hào 4 nhóm cung Khảm (1, 4, 7) tụ tập, Khảm Thủy tỵ hòa với Hợi Thủy nên tốt, dùng.
    - Tại hào 5 nhóm cung Cấn (2, 5, 8) tụ tập, Cấn Thổ sinh cho Dậu Kim là bị tiết khí nên xấu, kỵ.
    - Tại hào 6 nhóm cung Ly (3, 6, 9) tụ tập, Ly Hỏa sinh cho Mùi Thổ là bị tiết khí nên xấu, kỵ.
    Lối giải thích trên có thể gây khó chịu cho những độc giả “khó tính”, nhưng vì là người hậu học, chúng ta cố gắng tìm hiểu cái lý của các bậc tiền bối. Hữu lý thì ta chấp nhận, không hữu lý thì ta bác bỏ.
     
  13. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 13 : Làm nhà có nên tránh hạn Tam Tai hay không?

    Hễ gặp hạn tam tai thì thường gặp chuyện chẳng may. Bởi vậy khi khởi sự một việc trọng đại như cất nhà, mở mang việc mới… người ta thường phải tránh. Cách nhận biết hạn tam tai như sau:
    - Tuổi Thân Tý Thìn gặp tam tai ở các năm Dần Mẹo Thìn.
    - Tuổi Dần Ngọ Tuất gặp tam tai ở các năm Thân Dậu Tuất.
    - Tuổi Tỵ Dậu Sửu gặp tam tai ở các năm Hợi Tý Sửu.
    - Tuổi Hợi Mẹo Mùi gặp tam tai ở các năm Tỵ Ngọ Mùi.
    Thực chất của tam tai là gì? Là 3 chữ Bệnh Tử Mộ của vòng Tràng Sinh. Ý nghĩa của 3 chữ này nói nôm na là giai đoạn già yếu sinh bệnh tật, chết chóc và chôn dưới mộ, có hàm ý xấu. Tùy theo tam hợp cục của 3 tuổi trong 12 địa chi thuộc cục nào thì sẽ có cung khởi Tràng Sinh. Cụ thể như sau:
    - Tuổi Thân Tý Thìn hợp thành Thủy cục khởi Tràng Sinh tại Thân
    - Tuổi Dần Ngọ Tuất hôp thành Hỏa cục khởi Tràng Sinh tại Dần
    - Tuổi Tỵ Dậu Sửu hợp thành Kim cục khởi Tràng Sinh tại Tỵ
    - Tuổi Hợi Mẹo Mùi hợp thành Mộc cục khởi Tràng Sinh tại Hợi
    Sau khi xác định vị trí khởi Tràng Sinh rồi theo chiều thuận kim đồng hồ mà tính tiếp Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Mỗi cụm từ theo mỗi địa chi từ Tý đến Hợi, ta sẽ thấy các chữ Bệnh, Tử, Mộ sẽ rơi đúng vào các năm đã liệt kê: Dần Mẹo Thìn, Thân Dậu Tuất, Hợi Tý Sửu, Tỵ Ngọ Mùi theo thứ tự từng tam hợp cục nêu trên.
    Có người giải thích rằng bản chất của tam tai chính là do sự làm tiết khí của ngũ hành trong tam hợp cục, nghĩa là:
    - Thân Tý Thìn hợp thành Thủy cục, tam tai ở năm Dần Mẹo Thìn chính là tam hội ở phương Đông thuộc Mộc, lúc này Mộc vượng làm tiết khí của Thủy cục.
    - Tương tự Hợi Mẹo Mùi hợp thành Mộc cục, tam tai ở năm Tỵ Ngọ Mùi là tam hội ở phương Nam thuộc Hỏa. Hỏa vượng làm tiết khí của Mộc cục
    - Tương tự Tỵ Dậu Sửu hợp thành Kim cục, tam tai ở năm Hợi Tý Sửu là tam hội ở phương Bắc thuộc Thủy. Thủy vượng làm tiết khí của Kim cục.
    Đến đây tác giả (người đưa ra lý giải này) không tiếp tục giải thích trường hợp thứ tư là tuổi Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục tam tai ở năm Thân Dậu Tuất tam hội ở phương Tây thuộc hành Kim. Thử hỏi Kim có làm tiết khí của Hỏa cục được hay không? Nếu trả lời rằng “không” thì tất nhiên sự ý giải này trở thành gượng ép, không đáng lưu tâm.
    Theo ý nghĩa của chữ Bệnh, Tử, Mộ và lối giải thích trên ta thấy nó rất mơ hồ và gượng ép, không thấy có một lý lẽ nào dựa vào Dịch để chứng minh cho nên ta không cần tránh Tam Tai. Thế nhưng thay đổi cái tập quán, quan điểm của mỗi người không phải chuyện dễ dàng, ai sợ nó thì tránh, không sợ thì không tránh, chẳng ai bắt buộc .

    Nhân tiện nói về vòng Tràng Sinh tôi thuyết minh thêm yếu tố “Tam Sát”. Tam Sát là gì? Là 3 chữ Tuyệt, Thai, Dưỡng của vòng Tràng Sinh. Theo “Vĩnh Cát thông thư” nói rằng Tuyệt là Kiếp Sát, Thai là Tai Sát, Dưỡng là Tuế Sát. Nếu phạm thì sẽ gây tổn hại về người và của khá nghiêm trọng. Khi làm nhà cần phải tránh. Cách tính tam sát tổng quát như sau:
    - Năm tháng ngày giờ Thân Tý Thìn tam sát tại ba phương Tỵ Ngọ Mùi ở phía Nam thuộc quẻ Ly.
    - Năm tháng ngày giờ Dần Ngọ Tuất tam sát tại ba phương Hợi Tý Sửu ở phía Bắc thuộc quẻ Khảm.
    - Năm tháng ngày giờ Tỵ Dậu Sửu tam sát tại ba phương Dần Mẹo Thìn ở phía Đông thuộc quẻ Chấn.
    - Năm tháng ngày giờ Hợi Mẹo Mùi tam sát tại ba phương Thân Dậu Tuất ở phía Tây thuộc quẻ Đoài.
    Thực chất của tam sát là gì? Là quẻ phản ngâm,là sự xung đột khí quẻ với nhau như Khảm - Ly, Ly – Khảm,Chấn-Đoài, Đoài- Chấn. Ta cần phải tránh. Diễn giải cụ thể là :
    - Thân Tý Thìn thuộc Thủy cục là quẻ Khảm, tam sát tại Tỵ Ngọ Mùi thuộc quẻ Ly Hỏa tức thị xung khắc nhau.
    - Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa cục là quẻ Ly, tam sát tại Hợi Tý Sửu thuộc quẻ Khảm Thủy tức thị xung khắc nhau.
    - Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim cục là quẻ Đoài, tam sát tại Dần Mẹo Thìn thuộc quẻ Chấn Mộc, tức thị xung khắc nhau.
    - Hợi Mẹo Mùi thuộc Mộc cục là quẻ Chấn, tam sát tại Thân Dậu Tuất thuộc quẻ Đoài Kim, tức thị xung khắc nhau.

    Ghi chú: Theo kinh nghiệm của tôi, phạm Tam Tai muốn kiêng cử hay không thì tùy ý nhưng phạm Tam Sát thì nên tránh.
     
  14. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 14 : Làm nhà có đáng sợ sao Thái Bạch không?

    Sao Thái Bạch còn gọi là Kim tinh, các thuật sĩ ngày xưa hay dùng để bói toán tốt xấu về vận hạn của người đời. Nó là một trong 9 sao gọi là cửu diệu, tùy theo số tuổi của người đời là bao nhiêu sẽ gặp sao nào, tốt xấu ra sao, kiêng cử tháng nào v.v.. tôi xin liệt kê trong bảng dưới đây: (hình 5)
    ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    T.số mã của tuổi (mụ):-- Tên sao --: Ngũ hành-: Ý nghĩa : Th. giáng hạ : Ghi chú -
    ------ Nam ----- Nữ -----: ----------------: -------------:------------: ------------------- -------------------------
    -------- 1 --------- 6 ------: -- La Hầu ---: Thủy ---- : - Xấu ---: Tháng 1 & 7 :
    -------- 2 --------- 5 ------: -- Thổ Tú -- : Thổ ------: Xấu ---: Tháng 4 & 8 :
    -------- 3 --------- 9 ------: -Thủy Diệu -: Thủy ---- : Xấu ----: Tháng 4 & 8 :Có sách cho rằng
    -------- 4 --------- 8 ------:-Thái Bạch ---: Kim ------: Xấu ----: Tháng 5 --- : ba sao này vừa
    -------- 5 --------- 7 ------: Thái Dương : Hỏa ------:--Tốt --- : Tháng 6 &10: tốt vừa xấu
    -------- 6 --------- 2 ------: Vân Hớn ----: Hỏa ------:--Xấu ----: Tháng 2 & 8 :
    -------- 7 --------- 1 ------: -- Kế Đô ----: Thủy ----- :--Xấu ----: Tháng 3 & 9 :Có sách nói rằng 2
    -------- 8 --------- 4 ------: Thái Âm-----: Thủy -----:--Tốt ---- : Tháng 9 &11:sao này hành Kim
    -------- 9 --------- 3 -------: Mộc Đức ----: Mộc ------: Tốt -----:Tháng 11 &12:
    (Những tuổi nào có tổng số mã (các chữ số) lớn hơn 9 thì trừ đi 9 còn lại bao nhiêu thì đó là số đại biểu của sao trong bảng này)
    * Hình 5

    Nhận xét:
    - Về ngũ hành của các sao các sách cũng không thống nhất. Theo tử vi đẩu số thì bảo rằng sao Kế Đô (tức là sao Hỏa Kỵ) và sao Thái Âm (mặt trăng) đều thuộc hành Thủy. Ngược lại một số sách khác trôi nổi trên thị trường trước 1975 và hiện nay vẫn cho hai sao này thuộc hành Kim. Điều này tôi cho là sai và xác nhận ngũ hành của hai sao này là hành Thủy. Bởi vì sao Kế Đô là công vụ của sao Thái Âm (theo lối giải thích của các thuật sĩ) mà sao Thái Âm là vợ của Thiên tử tinh quân Thái Dương. Thái Dương thuộc Hỏa nên Thái Âm thuộc Thủy. Nói nôm na là Thái Dương thuộc Hỏa là biểu tượng của quẻ Ly, đối nghịch với quẻ Ly là quẻ Khảm tất thị Khảm thuộc Thủy nên Thái Âm thuộc Thủy, kéo theo sao Kế Đô cũng thuộc Thủy. Tôi giải thích như thế là nhằm mục đích tìm chân lý của nó, tất cả phải dựa vào Dịch để làm cơ sở lý luận, không thể nói một cách hời hợt.
    - Về sự tốt xấu: các thuật sĩ vẫn chưa thống nhất. Có 3 sao chưa thống nhất là sao Thủy Diệu, Thái Bạch và Thái Dương nhưng theo tôi thì thống nhất yếu tố này để làm gì? Có tác dụng gì đối với con người? Có nhiều rối rắm, mâu thuẫn xảy ra về việc tốt xấu của 3 sao này cũng như toàn bộ 9 sao đã nêu. Xét về số lượng thì sao tốt chỉ có 3 mà sao xấu có tới 6. Trong các sao tốt,bất luận là sao nào người ta rất phấn khởi và nghĩ rằng năm ấy họ sẽ gặp nhiều may mắn, không có tư tưởng cúng kính cầu phước nữa. Nhưng trong các sao xấu có 3 sao xấu nhất mà người ta thường nhờ thầy cúng giải, đó là: sao Thái Bạch, sao La Hầu và sao Kế Đô. Có những câu vè nói về tính chất xấu xa của nó như: Thái Bạch hết sạch cửa nhà, Kế Đô không xô cũng ngã, La hầu về chầu Diêm Vương v.v.. nghe rất khó lọt lỗ tai, nghĩa là họ không dựa vào một căn cứ hay một lý lẽ nào của Dịch, của thuyết ngũ hành để biện minh… thì làm sao ta tin tưởng được. Đến đây chắc quý bạn độc giả cũng có chung một suy luận bi hài như tôi là những loại xấu xa chuyên gây tác hại cho đời (ý nói các sao xấu) thì lại được người ta cung phụng, cúng kính mâm cao cổ đầy. Ngược lại những thành phần tốt (ý nói các sao tốt) luôn giúp đỡ cho đời thì chẳng thấy một ai cúng cho một miếng nước lã…..
    Vì vậy tôi khuyên mọi người không nên sợ ảnh hưởng của sao Thái Bạch mà kiêng cử khi chọn tuổi làm nhà. Lưu ý: sao Thái Bạch ứng hợp với tuổi của nam giới khi tổng số mã của tuổi bằng 4, so với bảng tính Kim lâu thì tuổi này ở vị trí Khảm là tốt dùng, so với bảng tính Hoang Ốc thì tuổi này ở vị trí hoặc là hào 1 (nhứt kiết) hoặc là hào 4(tứ tấn tài) là tốt dùng. Nếu ta sợ sao Thái Bạch thì chờ đến bao giờ?

    TỔNG KẾT
    Qua 4 mục Kim Lâu, Hoang ốc, Tam Tai và Thái Bạch mà tôi đã phân tích, quý bạn cứ yên tâm tự tính toán tìm cho mình tuổi thích hợp về việc xây cất nhà ở mà khỏi phải lo lắng một vấn đề nào nữa cả. Điều nào cần tránh thì tránh, điều nào không cần tránh thì thôi,đừng lo sợ những chuyện vụn vặt mà hỏng cả việc lớn.Tôi chọn sẵn số tuổi tốt để làm nhà (đã tránh được Kim lâu và Hoang ốc) chỉ cần xem năm ấy tuổi mình có phạm Tam Tai hay không? (Người nào sợ Tam Tai thì mới xem). Nếu phạm thì tránh,không phạm thì yên tâm tiến hành.Người nào không tin thì thôi,người nào tin tưởng thì ghi nhớ các số sau đây (tính tuổi mụ ): 16, 20, 22, 25, 31, 34, 40, 43, 49, 52, 58, 61, 67, 70, 76, 79, 85, 88, 94, 97 .Đặc biệt số tuổi dưới 30 và trên 70 không nên đứng làm chủ tạo vì quá nhỏ hoặc quá lớn. Trường hợp cần thiết thì vẫn có thể dùng tạm.
     
    Last edited by a moderator: Thg 3 29, 2016
  15. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 15 : Trục ngày đêm trong khoa Tử Vi

    Cách phân định ngày đêm theo trục Tý Ngọ, Mão Dậu ở đây chúng ta không bàn làm gì vì nó thuộc phạm trù của các nhà làm lịch, không dùng cho khoa Tử vi. Khoa tử vi lấy trục Dần Thân làm trục ngày đêm. Người xưa dựa vào quẻ Càn Khôn và cách biến hào của nó mà xác định như vậy.Chi tiết các bạn nên xem ''quái khí đồ'' sẽ rõ, ở đây tôi không thể giải thích tỉ mỉ được.
    Ta biết rằng từ tiết Đông chí trở đi dương khí bắt đầu hình thành, mỗi đêm ngắn bớt 1 phút. Đến tiết Hạ chí khí âm bắt đầu hình thành, mỗi đêm dài thêm 1 phút. Người xưa căn cứ vào sự tiêu trưởng của âm dương phối hợp với cách biến hào quẻ thuần Khôn và thuần Càn quy định như sau:
    1/- Quẻ Khôn
    - Biến hào đầu (hào dưới cùng) thành quẻ Phục ứng với cung Tý thuôc tháng 11 âm lịch.
    - Biến hào hai thành quẻ Lâm ứng vói cung Sửu thuộc tháng 12 AL
    - Biến hào ba thành quẻ Thái ứng với cung Dần thuộc tháng giêng.Dương khí đã thịnh.
    - Biến hào bốn thành quẻ Đại Tráng ứng với cung Mẹo thuộc tháng 2 AL.
    - Biến hào năm thành quẻ Quải ứng với cung Thìn thuộc tháng 3 AL.
    - Biến hào sáu thành quẻ Càn ứng với cung Tỵ thuộc tháng 4 AL. Dương khí cực thịnh.
    2/- Quẻ Càn
    - Biến hào đầu (hào dưới cùng) thành quẻ Cấu ứng với cung Ngọ thuôc tháng 5 âm lịch.
    - Biến hào hai thành quẻ Độn ứng vói cung Mùi thuộc tháng 6 AL
    - Biến hào ba thành quẻ Bỉ ứng với cung Thân thuộc tháng 7 AL. Âm khí đã thịnh.
    - Biến hào bốn thành quẻ Quán ứng với cung Dậu thuộc tháng 8 AL.
    - Biến hào năm thành quẻ Bác ứng với cung Tuất thuộc tháng 9 AL.
    - Biến hào sáu thành quẻ Khôn ứng với cung Hợi thuộc tháng 10 AL. Âm khí cực thịnh.

    Người xưa lấy mốc dương khí thịnh (tại Dần) và âm khí thịnh (tại Thân) làm trục ngày đêm.
    Chúng ta cần phải nghiên cứu qua Dịch học mới hiểu được sự vi diệu của nó.
    ****************** 
     
    Vonga thích bài này.
  16. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 16: CÁCH XEM TUỔI VỢ CHỒNG TỐT XẤU

    Trước hết bạn cần phải nắm rõ thuyết âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi, bát quái, lục thập hoa giáp. Nói nôm na là vậy chứ nó rộng lắm, đòi hỏi bạn phải có thời gian nghiên cứu, từ đó mới xem được.

    a/ Trường hợp tổng quát: Phải so sánh hai tuổi qua:

    - Thiên can với thiên can

    - Địa chi với địa chi

    - Thiên can với địa chi

    - Ngũ hành với ngũ hành (nạp âm)

    - Bát quái:
    + cung sanh với cung sanh


    + cung bát trạch với bát trạch

    +cung bát tự với bát tự

    - Căn duyên tiền định

    - (Có thầy còn dùng Huyền Không pháp để so sánh nữa đấy)

    b/ Trường hợp chi tiết: Sau khi xem xét phần tổng quát xong, bạn phải xem thêm một hoặc toàn bộ các môn Tứ Trụ, Tử Vi, Tướng pháp và Chỉ tay để bổ túc. Đây là phần quan trọng nhất. Cần lưu ý!

    Sau khi xem xét xong, xét điểm nào chính, điểm nào thứ rồi mới đoán hai tuổi nam nữ ấy phối hôn với nhau tốt hay xấu.

    Ví dụ: Luận một cặp Giáp Tý – Mậu Thìn như sau:

    1/ Tổng quát:

    - Thiên can : Nam: Giáp Mộc khắc nữ Mậu Thổ, Giáp phá Mậu => xấu (1)

    - Địa chi : Nam: Tý Thủy bị nữ: Thìn Thổ khắc => xấu (2)

    Tuổi Tý + Thìn = tam hợp cục Thủy => tốt (3)

    - Thiên can với Địa chi (trai Giáp lấy vợ tuổi Thìn): "Thu vụ lung sơn, phú quý phù vân'' nghĩa là mây mù bao trùm trên núi cao vào mùa Thu, giàu sang như mây bay nước chảy => xấu (4)

    - Ngũ hành : Nam Hải Trung Kim khắc nữ Đại Lâm Mộc --> chồng khắc vợ là thuận nhưng vợ bất lợi về sức khỏe => xấu (5)

    (Tuy nhiên phải nhớ thuyết ngũ hành sinh- khắc cho thật kỹ, nhất là hai hành giống nhau và hai hành khắc chế nhau… để hiểu được tai sao kỵ hoặc tốt dùng).

    - Bát quái phối hợp: +/ Cung sanh: Nam Chấn + Nữ Đoài = Tuyệt Mạng, vợ khắc chồng xấu (6)

    +/ Cung Btrạch : Nam Đoài + nữ Chấn = Tuyệt Mạng Phá Quân vô tử xấu (7)

    +/ Cung Bát tự : Nam Tốn + nữ Chấn = Tuyệt thể , xấu (8)

    - Căn duyên tiền định : Nam Giáp + nữ Thìn = 9 + 5 = 14 --> dư 4 = đạt đạo , tốt (9)

    (không kể Huyền Không pháp vào đây)

    Như vậy tổng quát hai tuổi này xấu nhiều, tốt ít, trong đó cơ bản là Thiên can, Bát trạch, Thiên Can phối Địa Chi quá xấu, cho nên luận hai tuổi này như sau:

    +/ Tài chính : khó phát triển, thăng giáng thất thường.

    +/ Sức khỏe : Người vợ thường đau ốm, lo rầu.

    +/ Con cái : Khó có con trai, nếu có thì cũng hay đau ốm, khó nuôi. Sinh con gái dễ nuôi hơn.

    +/ Hạnh phúc: Khó bền vững.

    2/ Chi tiết

    Sau khi xem xét tổng quát xong, bạn phải tiếp tục xét Tử Vi, Tứ Trụ, Tướng Học hoặc Chỉ Tay để bổ túc. Nói là bổ túc nhưng nó là phần quan trọng nhất, phải suy luận cho kỹ. Muốn vậy học thuật của bạn phải vững.

    Phối hợp cả hai phần tổng quát và chi tiết lại rồi bạn nêu kết luận chính thức. Trường hợp đôi nam nữ không nhớ ngày giờ sinh chính xác thì chỉ áp dụng một phương pháp tổng quát để luận cũng tạm ổn. Bạn nên đọc nhiều sách liên quan mới có kiến thức sâu rộng, phải tự kiểm tra một vài cặp vợ chồng mà bạn quen biết để rút kinh nghiệm.
     
    Last edited by a moderator: Thg 6 19, 2016
  17. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Tôi biên soạn tài liệu trong sách của chiêm tinh gia Huỳnh Liên (trước năm 1975) để các bạn tra cứu cho dễ:

    1/ -Trai Giáp lấy vợ tuổi Tý: (Chích quế thiềm cung hoàn nhập tại võng) Nghĩa là bẻ quế nơi cung thiềm, vợ chồng vui đẹp,có quyền thế về tư pháp nhưng thiếu âm đức, con cháu về sau lọt vào lưới và bị tai họa.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Sửu và tuổi Dần : (Võ chiếc hoa tiêu, vân trình thất lộ) Nghĩa là mưa gãy cành hoa, đường mây lạc lối. Không được tốt, lấy nhau rồi có nhiều dời đổi, con cái không được hiếu thuận lại rất khó nuôi. Làm quan bị giáng, đi thi không đậu.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Mão : (Thu phong lạc diệp, phu thê ly biệt) Nghĩa là gió Thu lá rụng, vợ chồng khó ở đời, sanh con khó nuôi, có thai bệnh hoạn.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Thìn và tuổi Tỵ : (Thu vụ lung sơn, phú quý phù vân) nghĩa là như mây mù mùa Thu bao trùm núi cao. Sự giàu sang như mây bay nước chảy. Không tốt, lấy nhau không bền.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Ngọ: (Trường xa chiếc trục, ngộ tai nan giải) Nghĩa là Xe to gãy trục, gặp nạn khó giải. Lấy nhau trước khá sau khổ, 42t gặp nạn nguy, không có đức có thể chết được.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Mùi : (Vân trình thất lộ, hữu tử nan dưỡng) Nghĩa là đường mây lỡ dỡ, sanh con khó nuôi. Nếu cưới nhau ở xa quê hương xứ sở may ra còn được lâu bền.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Thân : (Long phi vô võ, thối qua tán tài) Nghĩa là rồng bay mà thiếu mưa, làm quan bị giáng, hao tán tiền tài; gặp nhiều sự rũi ro, con cái khổ lây.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Dậu và Tuất : (Chiếc quế thiềm cung, Huỳnh long xuất hiện) Nghĩa là bẻ quế nơi cung Thiềm, rồng vàng hiện tới. Thi đậu cao, vợ đẹp con ngoan, công danh đắc lợi, tài lộc dồi dào. Sanh con trai đầu lòng là đúng.

    -Trai Giáp lấy vợ tuổi Hợi : (Nguyệt quế vọng thiềm, tiền vinh hậu nhục) Nghĩa là đứng bên thềm ngó lên cung trăng, trước tốt đẹp sau hư hại. Thi cử đỗ đạt, vợ cũng xinh đẹp nhưng cong danh về sau nửa đường bị tai ách .

    2/ -Trai Át lấy vợ tuổi Tý: (Long hổ tự phục, sanh khuyển đầu trúc)Nghĩa là : Rồng cọp đều quý, đầu chó trổ tre. Là công danh đắc lộ, con cái phát đạt, công danh có nhưng tài lộc kém.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Sửu và Dần: (Nhựt nguyệt đương thiên, hoa khai ngộ tuyết). Nghĩa là: Như mặt trời mặt trăng ở giữa trời, hoa nở gặp mùa tuyết xuống. Thi cũng đỗ đạt, trước thì danh vọng lớn lao nhưng sau thì gian nan cay đắng. Con cái một nửa khá, một nửa bần hàn. Hoa nở bị tuyết rơi thì rung hết chứ không còn bền được.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Mão: (liễu ngộ Đông phong, phượng hoàng chiếc dực) Nghĩa là cây liễu gặp ngọn gió Đông, chim phượng hoàng gãy cánh. Mới lấy nhau vợ chồng phát đạt mà kém về con thì dung, bằng có con thì tài giảm, trước thành sau bại, có khi gãy gánh nửa đường

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Thìn và tuổi Tỵ : (Tục danh thành tiên, đào nguyên yến hội) Nghĩa là người tục nên tiên, vào động đào nguyên dự yến tiệc. Trai muộn gái muộn, trai góa gái góa gặp nhau thì phát đạt rất mau. Nếu đôi lứa thiếu niên thì bên trai lép vế hơn bên gái, tất cũng tốt đẹp. Sanh cón gái nhiều hơn.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Ngọ: (Thiên địa vô võ, bối minh diện ám) Nghĩa là trời đất không mưa, sau lưng sang, trước mặt tối. Trai góa gái góa lấy nhau phát đạt cực mau. Nếu là đôi lứa thiếu niên cũng gọi là tốt nhưng về sau có chuyện buồn khổ trong phòng khuê, dầu có danh vọng cũng mang hoạn nạn.

    -Trai Ất lấy vợ tuổiMùi : (Ngư quá võ môn, long phi đắc chí) Nghĩa là cá vượt võ môn, rồng mây gặp hội. Vợ chồng hòa hợp, phú quý song toàn, con cái thi đỗ, rể quý dâu hiền, thật tốt.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Thân : (Long vân đắc lộ, khủng ngộ khiếp hình) Nghĩa là rồng bay gặp mây, gặp vận nhưng e bị cướp bóc hình sát. Vợ chồng tuy phát đạt nhưng mọi việc đều không bền.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Dậu : (Điểu nhập võng trung, bạch mã chiếc túc) Nghĩa là chim vào trong lưới, con ngựa trắng què chân) . Nếu thi đỗ cao quý tất phải chết non, trước hiển vinh thì sau bần khổ, bằng mà lúc trẻ gian nan thì về già được thư thả hơn.

    -Trai Ất lấy vợ tuổi Tuất và tuổi Hợi: (Nguyệt trầm thượng hải, long khổng hồng vân) Nghĩa là trăng chìm biển thẳm, rồng bị vây trong đám mây hồng. An phận thủ thường, cực khổ lúc trẻ thì được an vui lúc về già. Nếu thi đỗ tất chết non, con cái công danh cũng trắc trở.

    3/ -Trai Bính lấy vợ tuổi Tý: (Hồng hoa lạc địa, niên tẩu thọ lão). Nghĩa là : Hoa hồng rơi đầy đất, lúc trẻ bôn tẩu nhiều thì tuổi thọ được cao. Vợ sanh sản khó, có khi nguy mạng, sanh con trai nhiều thì hạp, sanh con gái khó nuôi. Nếu có thiếp cũng có con trai.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Sửu: (Long tàng hải để, nhân hữu minh linh) Nghĩa là : Rồng còn dấu mình dưới đáy bể, có nhân thì cũng có con nuôi… Vất vả mãi nhưng khó có dịp bay nhảy, khó thủ đắc công danh, con cái khó nuôi, về già cũng được an nhàn.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Dần : (Oanh yến phùng xuân, thê tử hòa hiệp) Nghĩa là : chim oanh, chim yến gặp mùa xuân, vợ đẹp con ngoan, hào hiệp. Lúc đầu có xa cách, sau tái hợp mới nên. Con cái thông minh, hào phóng, con gái đỗ đạt hơn con trai.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Mão và tuổi Thìn: (Ngư nhập võng trung, nạn tai khốn tử). Nghĩa là : cá lọt vào lưới, thân gặp nạn khốn đốn đến vợ con. Rất xấu! Nhiều cách trở, có tử biệt sanh ly, con cái không đỗ đạt.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Tỵ: (Càn đạo hành chu, tài vật phong phiêu). Nghĩa là : Thuyền đi trên hướng cung Càn, chở tiền của đầy ăm ắp. Vợ là con nhà danh vọng hơn chồng, cưới con gái trưởng mới tốt, dàu thi cử không đỗ nhưng làm ăn phát đạt, con cái làm nên danh phận về sau.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Ngọ và Mùi: (Nổn thảo phùng xuân, khuyết ty nhập thủy) Nghĩa là : cỏ non gặp mùa xuân, rêu xanh được vào nước. Vợ chồng gặp nhau trong cảnh hàn vi thì sau mới phát đạt. 40t trở lên mình có tiểu tật nhưng con cái đỗ đạt cao.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Thân : (Khô mộc phùng xuân, tiền tổn hậu ích) Nghĩa là : Cây khô gặp mùa xuân, trước hại sau lợi. Làm ăn tiện tặn giàu có lớn. Sanh con cái học hành giỏi, thi đậu cao khoa.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Dậu : (Tử tôn hưng vượng, phú quý miên trường) Nghĩa là : con cái khá giả, giàu sang lâu dài. Lúc đầu gặp trắc trở sau tái hợp, sanh con gái đầy đàn, thi cử đỗ đạt, phúc lộc lâu dài.

    -Trai Bính lấy vợ tuổi Tuất và Hợi : (Oanh yến nan hòa, hữu tử nan dưỡng) Nghĩa là : chim oanh, chim yến khó hòa, có con khó nuôi. Vợ chồng đều là con một hay là con mồ côi cả thì tốt, bằng đủ cha mẹ thì người con trai phải có danh vọng hơn, sanh con cái khó nuôi, trước thành sau bại.

    4/ -Trai Đinh lấy vợ tuổi Tý : (Mãnh hổ lạc tỉnh, đặt long điếu câu) Nghĩa là: Cọp lọt giếng sâu, rồng vướng lưỡi câu. Vợ chồng phát đạt, gặp nhau tuy dễ nhưng không được lâu bền nên đến khi tử biệt chồng mất trước vợ, con cháu về sau gặp tai ách liên miên.

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Sửu và Dần: (Cảnh phá trâm phân, hoa tàn bình tán) Nghĩa là: gương vỡ trâm gãy, hoa tàn bình rơi. Vợ chồng gặp nhau suy bại nhiều lần, hữu sanh vô dưỡng, rốt cuộc sẽ đi đến chỗ kẻ còn người mất.

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Mão : (Đào nguyên yến hội, kiết tử khai hoa). Tình duyên vui đẹp, con cái đầy đàn, học hành đỗ đạt. Trung niên gặp hạn xấu, có đứa con trai yểu vong (chết non), tuổi già có đứa con bỏ đi về sau trở về sum họp mẹ cha.

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ: (Bằng điêu ngộ xuân, tài bạch thân hào) Nghĩa là: Chim đại bàng, chim điêu là hai loài hải điểu cực lớn, khi gặp mùa xuân đôi cánh nó chuyển ra đủ gây song gió, tiền bạc dồi dào. Lấy nhau đại phát như được hoạnh tài, con cái đỗ cao, nối nghiệp giàu sang lâu bền.

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Ngọ và Mùi: (Song hoa phát giác, minh hiện chủ nhân) Nghĩa là: hai cánh hoa tỏ rõ trước mặt chủ nhân ông. Vợ chồng trước có trắc trở rồi sau mới gặp nhau, khó nuôi con. Cần tìm con nuôi được thì đại phát, rất hiếu thảo, học hành đỗ đạt, phước lộc song toàn.

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Thân và Dậu: (Dũng hổ uy quyền, tướng soái thiên vạn) Nghĩa là: Quyền oai như cọp mạnh, phong cách tướng soái chấp chưởng muôn quân. Vợ chồng tảo phát tảo thành, công danh rạng rỡ, con cái hòa vui, học hành đỗ đạt nhưng đến tuổi già lại lâm đại nạn như một lão tướng da ngựa bọc thây ngoài trận địa

    -Trai Đinh lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Trúc thuyền ngộ phong, ngư hải vượt lãn) Nghĩa là: Thuyền nan gặp gió như cá vượt sóng to. Tuổi vợ chồng gặp nhau như thuyền nhẹ gặp gió xuôi thuận một lèo, như cá nhảy trên đầu song. Phu hiển thê vinh, con cái đỗ đạt.

    5/ -Trai Mậu lấy vợ tuổi Tý Sửu Dần: (Minh châu hiến thoại, thiết thọ khai hoa) Nghĩa là: Được ngọc minh châu là được hiến mọi điềm lành, cây sắt trổ hoa cũng là đại kiết xương. Vợ chồng phối hợp vừa sắc phải tài. Trai có danh, gái có hạnh, sanh con cái khôn ngoan tài tuấn, thi cử đỗ đạt. Riêng hai tuổi Sửu và Dần thì về già chồng bị tiểu tật nhưng vô hại.

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Mão: (Ngư du điểm mạch, hữu tử cách trở) Nghĩa là: Cá lội đụng đầu, có con cách trở. Vợ chồng gặp nhau nơi xứ lạ quê người thì được, bằng mà ở chỗ đồng hương thì bần cùng cơ khổ, có con khó nuôi, nuôi được lớn lên cũng ly biệt. Nên đi xa xứ lập nghiệp ngày già mới được an vui.

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Thìn: (Ngọc xuất Côn Sơn, vinh nhục bất toàn) Nghĩa là: Núi Côn Sơn có ngọc, sự vinh nhục không đều. Vợ gặp chồng trước khổ sau sang, tiền bần hậu phú, thi trước rớt sau đậu, đường công danh gặp may, con cháu đông đủ.

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Tỵ và Ngọ: (Minh châu biến hắc, sắc nữ tử ngoại gian) Nghĩa là: Ngọc sang hóa đen, gái sinh gian ý. Vợ chồng tương xứng gái sắc trai tài, công danh đắc lộ , sanh con trai đầu nhưng sau nữa có con gái không được đằm thắm.

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Mùi và Thân: (Cầm sắc tục huyền, tái thú sinh nam) Nghĩa là: Đàn phải nối dây, sanh nam nối dõi). Vợ chồng sinh ly tử biệt, lần sau hoặc có thêm hầu thiếp mới có con trai

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Dậu: (Lễ thánh triều tiên, nam nữ thịnh vượng) Nghĩa là: Lễ trời lạy thánh, vợ chồng con cái vui đẹp. Đẹp đôi, tốt số, phu thê thuận hòa, phú quý đồng đều, con cháu đời đời nối nghiệp.

    -Trai Mậu lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Nguyệt đồ thủy để, ngộ sát giang hà) Nghĩa là: Trăng chìm đáy nước, gặp nguy trên sông biển. Vợ chồng vui đẹp đầy vẻ phong lưu nhưng chỉ có sự rực rỡ bề ngoài còn bên trong mang nhiều cay đắng, gặp nạn trên đường sông biển. Nếu cưới nhau ở xứ lạ quê người thì tốt.

    6/ -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Tý: (Nông tang điền canh, đại lợi tàm cốc) Nghĩa là: Ruộng vườn cày cấy có lợi lớn về lúa thóc tằm dâu. Vợ chồng trước cực sau sang, hạp chăn nuôi trồng trọt, cần cù mà giàu, con cái khá giả.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Sửu: (Khô mộc sinh hoa, phàn sào nhi khứ) Nghĩa là:Cây khô trổ bông, đốt ổ mà đi. Nên rời bỏ quê hương đi lập nghiệp xứ khác hoặc về quê vợ. Tuy có sanh nhưng khó nuôi con, về sau con cũng khá.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Dần và Mão: (Thê tử hảo hiệp, hoa lệ đường hoàng) Nghĩa là:Vợ đẹp con ngoan, nhà cửa vui đẹp. Có vợ rồi lấy thiếp hoặc kế, sanh toàn con trai hoặc không có con trai. Nên rời quê hương làm ăn phát đạt, con đỗ cao khoa.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ: (Khử cựu sanh tân, quần âm sảo tận) Nghĩa là: Thay cũ đổi mới, khí âm hết rồi. Vợ chồng gặp nhau trắc trở, dầu thương yêu mấy cũng chiụ xa lìa, trước tan sau hợp nhưng cũng hiếm con vì chỗ chôn mồ mả tổ tiên âm đức đã hết, phải tìm con nuôi cầu may cũng khá

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Ngọ: (Tẩu mã trường thành, nhựt nguyệt đương thiên. Nghĩa là: Giục ngựa trường (dài) thành, mặt trời mặt trăng sáng chói. Đời trước không thành, bỏ sang xứ khác tái lập gia đình. Sanh con đỗ đạt, danh lợi đều có, rực rỡ hơn người.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Mùi và Thân: (Tân thuyền hạ thủy, niên đại vinh xương) Nghĩa là: Thuyền mới vừa cho xuống nước, đời đời được hưởng giàu sang. Vợ chồng xứng đôi tài sắc, trai lứa gái tân, sanh con cái thông minh, thi cử đỗ đạt, phước thọ lâu dài.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Dậu: (Thủy hỏa tương xung, phu thê ly biệt) Nghĩa là: Nước lửa tương xung, vợ chồng chia lìa. Tuy ăn ở với nhau có con có cái, song có người góa bụa, nếu vợ chồng không bỏ đi thì chồng cũng yểu mạng.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Tuất: (Nhựt lạc hoàng hôn, thất tài tự bại) Nghĩa là: Trời chiều bóng ngã, tiền hết thân hư. Nếu sinh hạp mùa, cưới đúng ngày giờ tốt thì tuy vợ chồng suy yếu vẫn sống thọ, về sau nhờ con cũng được yên vui.

    -Trai Kỷ lấy vợ tuổi Hợi: (Thần tiên giáng hạ, nhựt lạc Tây thiên) Nghĩa là: Thần tiên xuống trần, trời chiều nắng tắt. Vợ chồng hòa hợp, cư xử lễ nghi, mỗi ngày mỗi mới. Trời hết ngày tới đêm, đem sáng lại ngày. Con thông tuệ, thi đỗ cao, gái có duyên làm rạng rỡ tổ tông, nhờ vợ hiền dâu thảo.

    7/ -Trai Canh lấy vợ tuổi Tý và Sửu: (Châu huyện khai môn, thiên hạ tuyệt khí) Nghĩa là: Cửa châu huyện đều mở, khí âm dương đã hết. Sanh đúng thời, cưới gả đúng thời sẽ có con trai, nếu trái lại thì chỉ được một người học hành giỏi, thi đỗ cao khoa mà thôi.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Dần và Mão: (Thiết thuyền độ hải, chủ tử bất ách) Nghĩa là: Thuyền sắt vượt biển, chết không tai ách. Đó là sự bền vững kiên cố. Vợ chồng hiệp nhau dù gặp gian khổ lúc đầu đến sau sung sướng sang cả, con cái vinh hiển.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ: (Vân thê thất lộ, đại táng kỳ hung) Nghĩa là: Thang mây lỡ dỡ, mọi sự hung dữ đem chôn cả. Dù thi rớt nhưng lấy vợ rồi cũng làm nên và thi đỗ; con trai nhiều, học giỏi đậu cao. Sau già góa vợ.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Ngọ: (Mã đạp trường thành, phú quý vô hạn) Nghĩa là: Ngựa vượt trường thành, giàu sang không có hạn định. Thi đỗ cao, lấy vợ đẹp giàu sang, đó là sanh thời thuân; còn sanh thời nghịch khắc thì phòng khuê có sự đau buồn, có thể lỡ dỡ hư hỏng cả sản nghiệp.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Mùi và Thân: (Thu nhạn phùng phong, yến lãnh phân đôi). Nghĩa là: Nhạn mùa Thu gặp gió, chim én trên núi cao chia đàn mà bay. Lấy nhau đại phát, con cái khá đông nhưng e sau phải góa vợ, góa chồng; nhưng dù góa bụa con cái hai giòng đều hiếu thuận.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Dậu: (Cảnh phá châm phân, tiên hiệp hậu đoạn) Nghĩa là: Kim gãy gương tan, trước hiệp sau lìa. Lấy nhau dù có phát đạt nhứt thời về sau cũng sanh ly tử biệt, con cái bần bạt, phiêu linh khổ sở.

    -Trai Canh lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Phi điểu ngộ tiễn, tái thú sinh nữ) Nghĩa là: chim bay bị tên, lấy vợ sau sinh con gái. Đời vợ trước sanh ly tử biệt, nếu để lại con trai thì nên; lấy vợ sau sinh con gái cũng hiếu thuận.

    8/ -Trai Tân lấy vợ tuổi Tý: (Khô mộc khai hoa, cảnh phá đào sanh) Nghĩa là: Cây khô trổ bông, gương vỡ thì đào hoa xuất hiện. Lấy nhau sớm ắt không làm nên, lại sinh nở khó đến nguy mạng. Đời vợ sau con cái khó thành danh.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Sửu và Dần: (Thiên địa tuyệt khí, chung vô tử tức)Nghĩa là: Khí âm dương hết rồi, rốt cuộc lại không có con. Vợ chồng lấy nhau bần khổ, dẫu có gặp thời bộc phát khá giả cũng không bền, có con cũng hèn, về sau không có dâu, dĩ nhiên là hết phần hương lửa (ý nói không có con cháu nối dõi tông đường thờ cúng tổ tiên)

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Mão: (Trung thiên nguyệt chiếu, ba đào tịnh lãng)Nghĩa là: Trăng sang giữa trời, song gió yên lặng. Vợ chồng lấy nhau trước nghèo sau giàu, con cái thông minh khéo léo, thi cử đỗ đạt.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ: (Long khổn vô võ, điền tài miên miên)Nghĩa là: Rồng cạn thiếu mưa, giàu sang lâu bền. Thiếu con trai, dầu có cũng không học hành đỗ đạt. Tốt hào con gái, tiền bạc ruộng vườn giàu có lâu bền.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Ngọ: (Nhập hải tầm châu, khai hoa kiết tử)Nghĩa là: Xuống biển tìm châu, hoa nở kết trái. Trước nghèo sau giàu, sanh con gái đông nhưng con trai là quý tử thông minh, thi đậu cao.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Mùi và Thân: (Niên độ phong tật, hữu tử nan dưỡng)Nghĩa là: Năm gặp tật bệnh, sanh con khó nuôi. Nếu con trai mồ côi mẹ, gái mồ côi cha lấy nhau rất hợp, tuy vậy con gái cũng ít phước, thi khó đậu lại có tật bệnh khó nuôi.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Dậu: (Tung hoành đắc chí, hữu tử nan dưỡng)Nghĩa là: Dọc ngang thỏa lòng, sanh con khó nuôi đến trưởng thành. Tổ 4 đời là người có thanh danh nhưng đến con cháu sau âm đức suy giảm. Trai có một lần vợ, gái có một lần chồng hoặc gặp gỡ nhau trước khi cưới thì hợp; tuy vậy sau cũng không bền, có con khó nuôi, làm ăn may rủi.

    -Trai Tân lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Phu thê phản mục, nhựt lạc Tây thiên) Nghĩa là: Vợ chồng thù nghịch, mặt trời xế non Tây. Vợ sanh đẻ khó khăn; bình thường cũng ghét mặt nhau, e không lâu bền, dầu có con cái làm nên cũng chết yểu.

    9/ -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Tý: (Huề thủ tại võng, quan pháp tại tụng) Nghĩa là: Dắt tay vào lưới, gặp quan tai kiện tụng. Lấy nhau không hợp, hay có bệnh hoạn, thưa kiện lôi thôi; nếu vợ mạnh mẽ e có điều đau buồn chốn thâm khuê; dầu có con cái cũng không sang cả.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Sửu: (Võ đả hoa tiêu, vân trình thất lộ) Nghĩa là: Mưa dầm hoa rụng, mất lối công danh. Làm ăn cũng khá giả, vui vẻ nhưng con cái không được hưởng phước lâu bền; hiếm con gái, nhiều con trai, có thi đỗ làm quan cũng mất chức.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Dần và Mão: (Thu sương lạc diệp, ngoại hữu chủ nhơn) Nghĩa là: Sương Thu rơi trên lá, bên ngoài còn có chủ nhơn ông. Tuy làm ăn khá giả, sanh con cái đông nhưng rốt cuc lại không nên danh phận gì, vợ chồng thường nghi kỵ lẫn nhau.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Thìn: (Thu vô lung sơn, phú quý phù vân) Nghĩa là: Mùa Thu trùm núi, giàu sang như mây trôi. Lấy nhau những năm đầu làm ăn phát đạt nhưng về sau suy bại dần dần, càng già càng sanh bệnh tật, con cái cũng khó nuôi.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Tỵ và Ngọ: (Trường xa chiếc trục, bán lộ ngộ tai) Nghĩa là: Xe lớn gãy trục, nửa đường gặp tai nạn. Tới tuổi trung niên e kẻ còn người mất. Lấy nhau lúc đầu phát đạt, có con học hành đỗ đạt; đời vợ sau mới ăn ở đến già.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Mùi: (Âm dương bất giao, nhơn khẩu bất miên) Nghĩa là: Trời đất không thuận, miệng người không vừa. Lấy nhau khó, thường sinh bất trắc, nếu có con cái thì học hành khá nhưng về sau cũng tật bệnh, gặp rủi ro, không được hưởng lâu dài.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Thân: (Vân lộ thất phương, cầu sự bất thành) Nghĩa là: Đường mây lạc hướng, mọi việc đều khó. Lấy nhau tuy con cái đông, làm ăn khá nhưng không bền; giàu thì đau ốm, làm quan bị giáng chức; nếu lấy nhau ở xứ xa hay là trai đã có một đời vợ thì tốt.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Dậu: (Hành lộ ngộ phong, cầu tài bất lợi) Nghĩa là: Đường đi gặp gió ngược, cầu tài không có, nguy hại vô cùng; lấy nhau đã gặp khổ, làm ăn vất vả, sanh con không nuôi được.

    -Trai Nhâm lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Chiếc quế thiềm cung, huỳnh long xuất hiện) Nghĩa là: Bẻ quế cung Thiềm, rồng vàng xuất hiện. Trai gái đẹp duyên, môn đăng hộ đối, âm đức vượng tướng, sanh trai quý gái hiền, thi đỗ cao, vinh hiển dài lâu.

    10/ -Trai Quý lấy vợ tuổi Tý: (Long triều hổ phục, khuyển đầu sanh trúc) Nghĩa là: Rồng chầu cọp núp, đầu chó sanh tre. Trường thọ mà phú quý. Nếu được lấy nhau ở xa quê hương thì con cái đều đại tiến, hưởng phước lộc đời đời. Tuổi gái Giáp Tý lấy trai Quý Hợi là cực tốt.


    -Trai Quý lấy vợ tuổi Sửu và Dần: (Nhựt nguyêt đương thiên, hoa khai ngộ tuyết) Nghĩa là: Mặt trời, mặt trăng đang tỏa sáng, hoa nở gặp tuyết rơi. Nên lấy vợ cách xa quê hương làm ăn phát đạt, học hành thi đỗ; sanh con cái đẹp, thông minh; trai đậu cao khoa, có rể hiếu, dâu quý.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Mão: (Đào liễu phùng xuân, phượng hoàng chuyển dực) Nghĩa là: Đào liễu gặp gió xuân, chim phượng hoàng đang mở cánh bay cao. Người sanh mùa Xuân hạp số, lấy nhau ở xa quê hương đại phát nhưng không bền, e chốn phòng khuê có điều sầu khổ, có thể xa lìa nhau. Nếu cả hai cùng có học thì sinh con cái khá, trai lỡ một đời vợ rồi thì tốt hơn.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ: (Tục dung thành tiên, đào nguyên yến hội) Nghĩa là: Người tục nên tiên, vào động đào nguyên yến hội. Nếu hai người cùng là con mồ côi thì thật là đại quý cách; vợ chồng phát đạt sớm, con cái ngoan đẹp, thuận hòa vui vẻ, chung tình hưởng phước đế già.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Ngọ: (Nhựt nguyệt tinh quang, thiên địa vô võ) Nghĩa là: Mặt nhựt nguyệt trong sang,trời đất không mưa. Thiên địa hòa phu phụ thành. Trồng trọt chăn nuôi phát lời; sanh con cái thông minh đỗ đạt.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Mùi Thân: (Ngư quá võ môn, long hành đắc chí) Nghĩa là:cá vượt võ môn, rồng bay lên mây. Rất tốt. Vợ chồng hòa thuận, gặp dịp may, sanh con hiếu thảo, thi cử đỗ đạt, hưởng phước lộc bền lâu.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Dậu: (Điểu nhập võng trung, liệt mã chiếc túc) Nghĩa là: Chim bị lọt lưới, ngựa mạnh què chân. Lấy nhau vui đẹp nhưng phi bần tắc yểu (nghèo thì được còn giàu sang đỗ đạt thì chết yểu), con cái không được sang sủa.

    -Trai Quý lấy vợ tuổi Tuất và Hợi: (Nguyệt trầm thượng hải, long khổn vô võ) Nghĩa là: Trăng chìm biển thẳm, rồng bị khốn vì thiếu mưa. Cưới gả xong bộc phát ít lâu rồi cũng suy bại; thi đỗ cũng chết yểu, giàu lớn cũng giảm thọ, con cái không thông đạt.
     
  18. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 17: NHỮNG KIÊNG KỴ KHI LÀM NHÀ

    Ngoài những yếu tố kiêng kỵ khi xác định tuổi làm nhà (tránh Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai, Thái Bạch) như tôi đã nêu – còn phải tránh thêm một vài yếu tố quan trọng nữa, đó là:

    1/ Hướng nhà : là yếu tố quan trọng bậc nhất của một ngôi nhà. Nếu hướng nhà và hướng cửa cùng nằm trên một trục dọc đi qua tâm nhà thì hướng nhà là hướng có đường thẳng vuông góc với mặt đứng của ngôi nhà. Hiện nay, lối kiến trúc trong đô thị bị áp lực “tấc đất tấc vàng” nên nhiều người đã tận dụng hết diện tích để xây dựng… khiến cho có những trường hợp hướng nhà nhìn về một nơi, hướng cửa nhìn về một nẻo; ví dụ như hướng nhà là Bắc, hướng cửa là Đông, hoặc hướng nhà là Nam, hướng cửa là Tây Nam…Ngược lại với Hướng là Tọa của nhà. Ví dụ như nhà hướng Nam thì tọa hướng Bắc (giới học thuật gọi là tọa Khảm hướng Ly) hay nhà hướng Tây Nam thì tọa là Đông Bắc (tọa Cấn hướng Khôn…). Thế nhưng một số người không quan trọng hướng nhà mà chỉ chú ý đến hướng cửa chinh để tính toán. Cách gọi tọa hướng của cửa chính cũng giống như cách gọi của tọa hướng nhà. Ví dụ tọa Càn hướng Tốn hoặc tọa Mão hướng Dậu… Tùy theo quan điểm của mỗi người, nếu tin thì cần kiêng cử:
    - Sao Ngũ Huỳnh: Là một sao rất xấu, một sát tinh có quyền năng rất lớn, không được phạm đến nó, nếu phạm sẽ gặp những tai họa về người và của, Sao Ngũ Huỳnh kỵ nhất là ở hướng.
    - Tam Sát: là tổ hợp của ba Sát (Tuế Sát, Kiếp Sát và Tai Sát – như tôi đã nêu trên-). Nếu phạm sẽ sinh tai họa về người và của. Tam sát nặng nhất khi ở tọa. Nó xếp hạng thứ hai sau Ngũ Huỳnh.
    - Thái Tuế: Năm nào thì Thái Tuế xạ vào cung ấy. ví dụ năm Đinh Dậu Thái Tuế xạ vào cung Dậu, tức là hướng Tây.
    - Tuế Phá: Là phương vị đối xung với Thái tuế, năm Đinh Dậu Tuế Phá ở cung Mão, tức thị tại hướng Đông.

    2/ Ngày thi công: Hiện nay có hai nhóm xem ngày dụng sự:
    -/ Nhóm theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư: chiếm đa số . Cần tránh ngày Thọ Tử, Sát Chủ, Vãng Vong, Hoang Ốc, Giá Ốc, Phục Đoạn, Xích Tòng Tử, Tam Nương sát, Tam Sa sát, Kim Thần Thất Sát, Nguyệt Ky (Lý Nhan), ngày xung kỵ bổn mạng và một số hung tinh, hung nhật khác (tùy theo tính chất dụng sự)
    -/ Nhóm theo Huyền Không Đại Quái; chiếm thiểu số vì mới được biết đến, cách tính toán rất phức tạp và chi tiết, chỉ dùng cho giới học thuật chứ người bình thường không quan tâm.
     
    Haohao89 and thiendongsg like this.
  19. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Lưu ý : Nếu các bạn muốn trao đổi xin mời các bạn đăng tin ở topic "mời các bạn tham gia", không đăng ở topic này vì để khỏi làm loãng topic.
     
  20. Baphải

    Baphải Danh Sỹ Tam phẩm

    Bài viết:
    1,798
    Đã được thích:
    3,877
    Giới tính:
    Nam
    Bài 18 : Cách tìm cung phi Bát Trạch và cung Bát Tự nhanh nhất

    1/Tìm cung phi Bát Trạch:

    */ Đọc theo thứ tự thành hình tròn như vầy: 1 Khảm → 2 Khôn → 3 Chấn → 4 Tốn → 5 Trung → 6 Càn → 7 Đoài → 8 Cấn → 9 Ly→ 1 khảm …

    (trong đó cung 5 Trung: nếu là nam thì tính là Khôn, nếu là nữ thì tính là Cấn)

    */ Gọi A là số tổng các số hạn của năm dương lịch hiện hành nếu số này lớn hơn 9 thì phải trừ 1 hay nhiều lần 9, sao cho A < / = 9 (nhỏ hơn hoặc bằng 9)

    */ Gọi B là tổng số hạn của tuổi mụ của một người nào đó, nếu số này lớn hơn 9 thì phải trừ 1 hay nhiều lần 9, sao cho A < / = 9 (nhỏ hơn hoặc bằng 9). (tuổi mụ = năm hiện hành – năm sinh + 1. Còn đối với những người sinh trước công nguyên thì cách xác định tuổi mụ không cộng thêm 1. Vậy: tuổi mụ = năm hiện hành (sau CN) + năm sinh (trước CN)

    */ Lấy kết quả của A làm số khởi điểm (nam khởi tại 1 Khảm, nữ khởi tại 5 Trung). Khởi từ số A đến số B,(nếu số A > B thì lấy số A lùi lại số B, ví dụ A= 6, B= 3 thì tính từ 6 -> 5 -> 4 -> 3. Nếu số A < B thì lấy số A tính đến số B, ví dụ A= 2, B = 8 thì tính từ 2 -> 3 -> 4 ->...-> 8).

    */ Nếu A = B thì cung khởi chính là cung phi Bát Trạch của người đó (nam Khảm, nữ Cấn)

    */ Nếu A < B thì nam khởi thuận, nữ khởi nghịch. Nếu A > B thì nam khởi nghịch, nữ khởi thuận. Rơi tại cung nào thì đó là cung phi Bát Trạch của người ấy.

    */ Phương pháp này bất luận người sinh trong vòng thượng nguyên, trung nguyên hay hạ nguyên.

    Ví dụ cụ thể: Năm 1863, vợ chồng ông Bụt có số tuổi mụ là 1210t, hỏi ông cung gì, bà cung gì?

    Cách tính:

    + Tổng số hạn của năm 1863 = A = 1+8+6+3 = 18 => A = 9.

    + Tổng số hạn của tuổi 1210 = B = 1+2+1+0 = 4 => B = 4

    + Ta thấy A > B nên nam khởi nghịch, nữ khởi thuận. Ông Bụt khởi 9 tại 1Khảm, 8 tại 9Ly, 7 tai 8Cấn, ….. 4 tại 5Trung. Vậy ông này có cung phi Bát trạch là Khôn. Bà Bụt khởi 9 tại 5Trung, 8 tại 6Càn, 7 tại 7Đoài …… 4 tại 1Khảm. Vậy bà này có cung phi Bát Trạch là Khảm.

    2/ Tìm cung phi Bát Tự:

    Đối với nữ giới, cung phi Bát Tự giống như cung phi Bát Trạch, nghĩa là cung phi Bát Trạch là Khảm thì cung phi Bát Tự cũng là Khảm, cung phi Bát Trạch là Càn thì cung phi Bát Tự cũng là Càn……

    Đối với nam giới, khi đã biết cung phi Bát Trạch rồi thì ta chỉ việc cộng thêm 6 cung nữa là sẽ có kết quả. (nếu kết quả lớn hơn 9 thì phải trừ đi 9)

    Ví dụ cụ thể:

    a) Người nam có cung Bát Trạch là Khôn (5) , ta cộng 6 cung nữa: 5 + 6 = 11. Vì số 11 > 9 nên ta phải trừ đi 9, tức là 11 – 9 = 2. Số 2 là cung Khôn.

    b) Người nam có cung phi Bát Trạch là Cấn (8 Cấn), ta cộng thêm 6 cung nữa: 8 + 6 = 14. Vì số 14 > 9 nên phải trừ đi 9, tức là 14- 9 = 5. Vậy người này có cung phi Bát Tự là Khôn (5)

    Đại loại là khi đã biết cung phi Bát trạch rồi thì ta chỉ việc tính tiếp tục đến 6 cung nữa (theo chiều kim đồng hồ), rơi tại cung nào thì cung ấy chính là cung Bát Tự của người ấy.

    Ví dụ tổng quát: Lấy mốc năm 2018. Người sinh năm 10 trước CN, tìm cung Bát Trạch và cung Bát Tự của mỗi tuổi nam và nữ?

    Cách tính: Những người này có số tuổi tính đến năm 2018 là: 2018 + 10 = 2028t. Ta có B = 3.

    Năm 2018 có tổng các số hạn là : A = 2 + 0 + 1 + 8 = 11. Ta có A = 2.

    Vì A < B nên nam khởi thuận, nữ khởi nghịch. Người nam khởi 2 tại 1Khảm, 3 tại 2Khôn, người này có cung phi Bát Trạch là Khôn và cung phi Bát Tự là 2+6 = 8 tức là Cấn.

    Người nữ khởi 2 tại 5Trung, 3 tại 4Tốn. Vậy người nữ có cung phi Bát Trạch và Bát Tự là Tốn.

    Các trường hợp khác cứ thế mà suy.
     
    thiendongsg, Suntory and Cừu like this.